Creepy: Đứa Em Trai


gal ghosts3 jpg

——- Phần 1 ——-


“Bố ơi?” đứa con trai 5 tuổi hỏi tôi. “Con có người em trai nào không ạ?”

Tôi luôn phì cười trước cái ý nghĩ ấy. “Không, con trai của bố, con không có người em trai nào cả”

“Bố có chắc là con không có không?” Nó gặng hỏi lần nữa.

“Vâng. Bố chắc chắn.”

Elias, con trai của tôi, cứ hỏi tôi vấn đề này suốt. Vợ tôi thì cho rằng nó đang muốn chúng tôi có thêm một đứa em trai cho nó. “Một thằng quỷ nhỏ là quá đủ rồi” Tôi phản kháng.

Tuy nhiên, buổi sáng nọ, khác với bao ngày thường. Elias không hỏi tôi gì cả. Lạ nhỉ. Cho nên, tôi chủ động đề cập đến vấn đề ấy.

“Elias, con không định hỏi bố về việc có em trai nữa à?” Tôi hỏi với giọng đùa cợt.

Nó nhìn tôi một cách hoang mang, “Bố đã nói là không có, đúng không ạ?”

Tôi cười to. “Tất nhiên là con không có rồi. Hiện tại thì không có. Nhưng tại sao con cứ muốn biết chuyện ấy đến thế, con trai của bố?”

Elias chuyển sự chú ý của nó về cái bánh quế bữa sáng. “Bởi vì, thưa bố, nếu con không có đứa em trai nào cả, thì con chả biết ai đến phòng con mỗi tối và chơi với con.”

“Cá…cái gì?” tôi sửng sốt, đặt ly cà phê xuống bàn và bỏ tờ báo buổi sáng đang cầm qua một bên.

“Đúng thế bố ạ” Elias tỏ ra khá hào hứng, “Cậu ấy vui lắm bố ơi. Nhưng con không thích cách nó cứ đến vào mỗi tối, vì nhiều lúc con mệt đến mức không còn sức để chơi nữa”

“Ai…một cậu bé đến phòng con à?” Tôi hỏi. Chắc thằng bé đang tưởng tượng đây mà…

“Vâng. Một cậu bé. Nhỏ hơn con một chút!” nó trả lời. “Nhưng…nó nhìn hao hao giống con. Bởi thế mà con cứ tưởng nó là em trai của con, bố ạ. Nó cứ bò ra khỏi gầm giường vào mỗi tối để chơi với con.”

“Hai…hai đứa chơi cái gì?” Tôi gặng hỏi, quyết định tìm hiểu câu chuyện đến cùng. “Hay nó là một đứa bé sống quanh đây?”

“Không bố ạ, nó không sống ở quanh đây,” Elias khẳng định. “Bọn con chơi nhiều thứ lắm. Nhưng con không thích chút nào khi nó cứ bắt con chui xuống gầm giường. Dưới đó tối lắm ạ, và có mùi gì kì kì nữa. Nhưng bố ơi, nó chỉ có mùi kì lạ khi con chui xuống dưới dưới với nó thôi.”

Tôi đứng bật dậy và đi thẳng đến chỗ cầu thang. “Bố? Bố!” Elias gọi vọng lại từ phía sau.

Bước vào căn phòng đủ thứ đồ chơi vương vãi trên sàn của nó, tôi chợt ngửi thấy mùi gì đó. Cứ mùi như chuột chết vậy. Tôi kiểm tra dưới gầm giường, nhưng chẳng có gì, hoặc ai đó cả. Để cho chắc ăn, tôi kiểm tra cả tủ quần áo của nó.

Chẳng có gì.

Bọn trẻ bây giờ tưởng tượng hay thật. Tôi thực sự ngưỡng mộ chúng. Dù bọn chúng có buồn chán đến cỡ nào, chúng vẫn có thể tự tìm lấy niềm vui từ những thứ chúng tự tưởng tượng ra, tạo nên một thế giới mới với những sự vật, người bạn cho riêng chúng. Tuy nhiên, vào đêm hôm đó khoảng 11:45 giờ khuya, tôi thề rằng tôi nghe tiếng con trai của mình cười khúc khích trong căn phòng của nó.

Và tiếng cười của nó không phải là thứ duy nhất mà tôi nghe thấy.

——- Phần 2 ——-

Hai tuần rưỡi trôi qua, Elias không hề đả động gì đến “người bạn” của nó. Kể từ cái ngày nó tiết lộ về những chuyến viếng thăm kì lạ kia, tôi khó có thể ngủ ngon vào mỗi tối.

Tin tốt lành là, không có thêm tiếng động kì lạ nào phát ra từ phòng Elias kể từ cái đêm đó. Tôi bắt đầu cho rằng những tiếng cười khúc khích mà mình tình cờ nghe được chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của chính mình. Nỗi lo sợ có phần hoang tưởng của tôi dần dần biến mất.

Tôi là giáo viên Anh văn ở trường trung học, cho nên ngày nào tôi cũng thả Elias ở nhà trẻ rồi sau đó lái xe khoảng chưa đầy 2 dặm đến nơi làm việc.

Hôm nay, khi ngồi trên xe, tôi không làm chủ được sự tò mò của mình.

“Này Elias, thế bạn ấy tên là gì thế?” Tôi hỏi. “Cái người hay đến chơi với con vào buổi tối ấy”

Elias không hề rời mắt khỏi chiếc xe cứu hỏa chạy ngang qua.

“Con không biết,” nó trả lời. “Cậu ấy chả bao giờ nói chuyện với con cả. Dù chỉ một lần. Nhưng con không giận cậu ấy đâu, vì nếu bọn con lên tiếng, bố mẹ sẽ thức giấc mất”

“Ồ, bố hiểu rồi”

Ít nhất thì thằng bé đó cũng biết lễ nghĩa.

Sau một hồi lâu lặng thinh, Elias nói tiếp:

“Thỉnh thoảng cậu ấy hay cười. Và đôi lúc cậu ấy lại khóc.”

Đỗ xe ngay bên ngoài nhà trẻ, tôi ra ngoài mở dây khóa chiếc ghế trẻ em cho Elias.

“Tại sao cậu bé ấy khóc?” Tôi hỏi, nhìn thẳng vào mắt con trai tôi.

Nó nhìn trừng trừng về phía tôi. “Vì con cứ nhất quyết không chịu chui xuống gầm giường với nó. Thi thoảng mỗi lần nó khóc, con thấy sợ lắm.”

Tim tôi như loạn nhịp. “Tại sao con lại sợ, Elias? Tôi hỏi, cố giữ vẻ mặt bình thường.”

“Vì mỗi lần nó khóc, nước mắt nó đỏ loét, cứ như máu ấy, bố ạ.”

* * * * *

Trong giờ ăn trưa của học sinh, tôi tận dụng thời gian đó đi gặp cô chuyên viên tư vấn tâm lý của trường. Tôi mừng hú khi thấy cô ấy vẫn ngồi trong phòng làm việc. Thường thì đúng giờ này, cô ấy có lẽ đã ra ngoài ăn trưa rồi.

“Chào Joanne!” tôi mở chuyện, lấy ghế ngồi cạnh.

“Chào anh Gordon. Tôi có thể giúp gì cho anh?” Cô ấy đáp lại. Cô ấy thường gọi các đồng nghiệp bằng họ, trong khi lại bắt chúng tôi gọi cô ấy bằng tên riêng.

“Ừ, chả là, cô biết nhiều về bọn trẻ 5 tuổi không?” Tôi ra vẻ cười đùa, cố gắng giữ bình tĩnh.

Cô ấy cười to. “Anh quên rồi à, tôi nuôi những ba đứa con lận đó. Cũng khá kinh nghiệm với chúng.”

Tôi cũng cười theo “Ừm, cô thấy đấy, tôi nghĩ con trai tôi, Elias, đang tự tưởng tưởng ra một đứa bạn vô hình…Tôi biết rằng bọn trẻ thích nghĩ vẩn vơ mấy thứ đó, nhưng…”

Joanne nhướng chân mày. Cô ấy chắc đã nhận ra sự căng thẳng của tôi, rồi trả lời: “À, điều đó cũng bình thường đối với bọn trẻ tuổi đó. Mấy đứa con của tôi cũng từng nghĩ ra mấy người bạn vô hình, nhưng khi lớn lên, chúng cũng không còn làm thế nữa.”

“Vâng” tôi thở dài. Tôi chỉ mong rằng Elias bé bỏng của tôi lớn cho thật nhanh ngay trong ngày hôm nay và quên đi “đứa em” của nó.

“Đứa bạn” của nó có vẻ…chỉ xuất hiện…vào ban đêm. Nhưng điều khiến tôi lo lắng chính là việc “nó” thỉnh thoảng khiến Elias sợ hãi”. Tôi liền đề cập đến những gì con tôi kể sáng nay trên xe.

Joanne bĩu môi. “Hmm. Thú vị đấy. Thế Elias làm gì khi nó sợ?”

Tôi đơ mặt ra. “Cái đó thì… tôi không biết”

“Tôi nghĩ rằng anh nên lắp một chiếc máy quay vào buổi tối. Bằng cách đó, anh có thể quan sát cách nó phản ứng. Theo những gì anh kể, tôi đoán Elias có thể đã tưởng tượng ra đứa bạn vô hình của nó mỗi khi gặp ác mộng. Ta chưa thể biết thêm điêu gì nếu chưa có thêm bằng chứng.”

* * * * *

Tôi không có thời gian để mua một cái máy quay liền hôm ấy. Sau khi tạm biệt Joanne, tôi lên lớp dạy nốt những tiết học còn lại và ở lại văn phòng giáo viên khá muộn để chấm xấp bài luận văn của học sinh.

Khi tôi trở về nhà, Elias đã chuẩn bị đi ngủ.

Trước khi chúc nó ngủ ngon, tôi âm thầm lục lọi trong đống đồ chơi cũ của nó: chăn, vú giả, thú nhồi bông nhỏ. Tại sao đến giờ mình vẫn còn giữ những thứ bỏ đi này nhỉ?

Và tôi cũng tìm thấy thứ đang tìm: cái máy bộ đàm chăm sóc trẻ sơ sinh. (Nhờ cái máy ấy, chúng tôi có thể biết nó ra sao khi không ở bên cạnh)

Sau khi tắt đèn phòng Elias, tôi bí mật để đồ thu tín hiệu máy bộ đàm trên sàn nhà, kế bên chiếc giường của nó. Tôi quay về phòng đặt máy nhận tín hiệu trên chiếc tủ cạnh giường ngủ vợ chồng tôi.

Ít nhất thì tôi cũng sẽ nghe được chuyện gì xảy ra bên đó, nếu thực sự có thứ gì kì lạ. Nó cũng sẽ giúp tôi có thêm thời gian tìm mua một cái máy quay.

* * * * *

Bốn ngày trôi qua và không có động tĩnh gì bên phòng Elias. Tôi cũng chả thèm tìm mua chiếc máy quay nữa. Tôi không có cớ gì để mua nó để điều tra một khi không có chuyện gì xảy ra cả.

Tôi dần quên đi “đứa bạn” tưởng tượng của Elias. Đứa “em trai” của nó.

Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến ngày thứ năm khi có tiếng động lạ phía bên phòng Elias. Lúc ấy là 1:15 đêm. Tiếng động mà tôi nghe cứ như thể ai đó gõ vào đồ phát tín hiệu đầu bên kia bằng ngón tay, cùng với tiếng cào nhẹ.

Tiếng nói tiếp theo mà tôi nghe thấy khiến tôi lạnh cả sống lưng.

“Đừng. Đừng khóc mà. Lần này tớ sẽ chui xuống dưới. Tớ hứa.”

Nhảy ra khỏi giường, tôi lao đến phòng của Elias.

——- Phần 3 ——-

“Elias Elias?!” Tôi kêu lên, loạn choạn mở cửa phòng ngủ của Elias. Dò dẫm bật công tắc điện, tôi nhận ra con trai tôi không bao giờ trả lời được nữa. “Elias!” Tôi hét lên một lần nữa.

Giường trống không.

Cuối xuống sàn, tôi kiểm tra dưới gầm giường.

Không có gì.

Tim tôi ngừng đập. “Elias!” Tôi rít lên, nhìn xung quanh phòng ngủ. Trong cuộc đời của tôi, tôi chưa bao giờ hét lớn đến vậy .

Lúc đó, vợ tôi, Annie, xông vào phòng. “Mark! Có chuyện gì vậy? Có chuyện gì vậy?” Cô hỏi với đôi mắt rưng rưng. Tôi không nghĩ cô ấy đã từng nghe thấy tôi la lớn đến vậy trước đây. Việc này nằm ngoài sức chịu đựng của cô ấy.Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy một tiếng rên như bị bóp nghẹt. Tủ quần áo.

Đằng sau cánh cửa, chúng tôi tìm thấy con trai của chúng tôi, nước mắt chảy dài trên gương mặt của nó, đôi tay ôm chặt con voi nhồi bông yêu thích của nó.“Con yêu! chuyện gì đã xảy ra?” vợ tôi hỏi và nhanh chóng ôm lấy con trai. Elias khóc đến sưng vù và không thể trả lời. Ánh mắt của cô ấy lúc này nhìn sang tôi. “Mark. Chuyện gì đang xảy ra? Anh đã nghe thấy thứ gì đó phải không?”

Tôi nhìn lại. “Đúng vậy, anh nghĩ vậy”, tôi nói, vuốt ve mái tóc của con trai tôi. Nó đã bắt đầu bình tĩnh lại.“C-con có thể ngủ trong phòng ba tối nay được không?” Elias nài nỉ với hài hàng nước mắt.

“Tất nhiên là được rồi con yêu, thôi nào chúng ta cùng nhau đi ngủ thôi,” Annie nói với nó, liếc nhìn tôi bảo tôi làm theo.

Khi cô ấy đưa con trai quay lại phòng ngủ của chúng tôi, tôi quyết định quay lại điều tra. Mãi cho đến lúc này tôi mới nhận ra rằng căn phòng có mùi hôi thoang thoảng, giống như có thứ gì đó đang phân rã trong căn phòng của con trai tôi.

Tôi tìm kiếm tủ quần áo đầu tiên. Đa số quần áo của Elias đều được vợ tôi gấp gọn gàng và treo lên. Không có gì trong tủ quần áo dường như mọi thứ đều bình thường.

Tôi quay lại và đẩy cái giường đôi sang một bên. Ở dưới có một ít bụi nhưng không có gì khác hơn, tất cả mọi thứ đều bình thường.

Tôi cúi xuống và bắt đầu kéo cái sàn. Chúng chắc chắn và không chịu nhúc nhích. Kéo giường của Elias trở lại vào đúng vị trí, tôi nhìn xung quanh căn phòng lần cuối trước khi cuối xuống để nhặt the baby monitor(*) tôi đã đặt xuống trước đó.

Nó đã biến mất.

Thực tế là, nó không có ở bất kỳ nơi nào trong phòng.
“Em đã lấy the baby monitor à?”. Tôi hỏi vợ tôi khi tôi quay lại phòng ngủ của chúng tôi.

Cô ấy nghiêng đầu như thể câu hỏi của tôi rất ngớ ngẩn. “tại sao em lại cần đến nó?” cô ấy đáp lại.

“Anh đoán rằng em đã lấy nó”, tôi nói và trèo lên giường nằm bên cạnh con trai.

“Em đã không chạm đến cái hộp đó một năm rồi, Mark”. Cô ấy quả quyết.

Lông mày của tôi nhíu lại. “không, anh đã lấy nó ra khỏi cái hộp và đặt nó lên đầu giường trước đó rồi”. Tôi đã không tính đến điều này, tôi chỉ tay về phía sau hướng về đầu giường.

Annie đã cho tôi một gương mặt nhầm lẫn thật sự: “không có gì ở đầu giường cả Mark à”.

Tôi quay đầu lại.

Cố ấy đã đúng. Nó đã biến mất.

* * *

Trong khi vợ tôi đang chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau, tôi giúp Elias mặc quần áo để đến trường mẫu giáo. Cởi cái áo pajama của nó, tôi nhận ra có một thứ gì đó làm tôi giật nảy mình la lên: “Elias, có chuyện gì với cánh tay của con?”

Nắm lấy tay nó, tôi quay cẳng tay để lộ bốn vết trầy xước, mỗi vết dài khoảng 5 cm. Các vết thương trông giống như những vết cắt giấy.

Nhưng thay vì trả lời câu hỏi, Elias nhìn xuống chân của mình và nói “không sao, cha, nó ổn mà.”

“Elias. cái gì. Đã xảy ra.” Tôi gặng hỏi. Tôi thường không phải là cha mẹ nghiêm khắc, nhưng điều này rất nghiêm trọng.

Nó cau mày. “Con không làm điều này, là nó đã làm”, Elias nói. “Nó đã cố kéo con xuống giường nhưng con đã kéo nó ra xa và trốn trong tủ quần áo, sau đó cha vào”.

Vết cắt không sâu dường như nó đã thành sẹo qua đêm. Bây giờ tôi chắc chắn rằng một cái gì đó kỳ lạ đang xảy ra. Con trai tôi sẽ không bao giờ thậm chí sẽ không lưu tâm đến những thứ làm tổn hại đến bản thân mình, cũng như bất cứ thứ gì trong phòng ngủ của nó làm nó bị thương theo cách như vậy.

“Elias, tại sao con không hỏi bạn ấy tại sao bạn ấy ở đây? có lẽ con có thể hỏi một cách tế nhị để bạn ấy rời khỏi đây.”

“Con đã biết tại sao em ấy lại ở đây cha à, em ấy đã sống ở đây lâu hơn cả chúng ta”.

Tôi sững sờ. “Con có chắc chắn? Bạn ấy đã nói với con điều này à?”

“Nuh uh. Em ấy không cho con biết. Con chỉ biết như vậy” Elias trả lời. Thật khó cho đứa trẻ 5 tuổi phải tự tin trong trong việc trình bày quan điểm của mình, nhưng con trai tôi chưa bao giờ nghiêm chỉnh như thời điểm hiện tại.

“Được rồi, ba tin con,” tôi nói, nhấc nó lên. “Bây giờ chúng ta hãy đi đến trường nào, con yêu.”

* * *

Tôi đã nghỉ làm một ngày và quyết định gặp đại lý người bán cho chúng tôi ngôi nhà. Nếu con trai tôi thật sự tin tưởng vào điều đó dù sao đi nữa tôi cũng nên có một cuộc viếng thăm họ những người sống trong ngôi nhà đó trước chúng tôi, khi đó tôi sẽ không có bất kì trở ngại nào về việc kiểm tra quá khứ ngôi nhà. Sau tất cả thật sự ngôi nhà từng có một đời chủ.

Lúc 2:30 PM, tôi bước vào Century 21 văn phòng địa ốc để gặp người phụ nữ bán cho chúng tôi ngôi nhà, Amanda Stinson.

“Vì vậy, ông muốn biết quá khứ đời chủ trước của ngôi nhà ông đang ở?” Bà ấy xác nhận sau khi chúng tôi có một cuộc trò chuyện ngắn về lý do tại sao tôi đến gặp bà ấy hôm nay. “Chính xác,” tôi nói thêm.

Sau một chục cú nhấp chuột vào bàn phím máy tính, bà ấy kéo lên thông tin của ngôi nhà. 

“Cũng có vẻ như ngôi nhà của ông từng được sở hửu bở một gia đình. Có vẻ như họ đã dời đi vào năm 1978. Tôi biết ngôi nhà của chúng tôi được xây dựng theo phong cách Victorian từ rất lâu trước năm 1978. Nhưng có một khoản thời gian không được máy tính của thế kỉ 21 lưu giữ.”

“Điều gì đã xảy ra với những người sống ở đó?” Tôi hỏi.

Bà Stinson quay lại tập trung vào máy tính. Tôi im lặng theo dõi trong khi bà ấy làm việc với cái màn hình.

“Uhm,” bà ấy thì thầm, “một miêu tả lạ lùng.”

Tôi không thể nghĩ ra điều gì để nói với bà ấy nên tôi khéo léo trả lời : “Bất cứ điều gì quan trọng, đủ cho tôi biết”

Bà ta chưa từng phá vỡ cái nhìn đăm đăm vào màn hình máy tính: “Được rồi…đã có một cái chết”
Tôi cảm thấy như trái tim tôi đã nhảy vào cổ họng của tôi. Tôi đã hơi tức giận và trút bực tức vào người phụ nữ này vì đã không nói cho chúng tôi về điều này trước khi mua nhà! Tôi gọi bà ta ra.

“Vâng, ông Gordon,” Bà ta đã cố gắng giải thích, “về mặt pháp lý, chúng tôi có phải thông báo cho người mua tiềm năng về cái chết của người chủ trước đó trong một khoảng thời gian 3 năm. Nhưng sự việc này đã xảy ra cách đây 35 năm.”

Với tin đó, tôi đoán tôi đã không có một lý do chính đáng để buồn, nhưng tôi vẫn còn. “Xin vui lòng cho tôi biết chi tiết” Tôi hỏi một cách lịch sự một nỗ lực để che đậy sự tức giận của tôi.

Bà ấy cắn chặt môi và nhìn tôi. “Tôi không tin rằng tôi được phép thảo luận về nó, ông Gordon.”

“Tôi đang nói những thứ liên quan đến bản thân tôi, bà Stinson: những thứ đó đã xảy ra cách đây 35 năm Đúng tôi biết nếu tôi sai, nhưng tôi tin rằng những tài liệu đó nên mở một cách công khai…”

Như đã hiểu những lời nói của tôi, bà ấy thở dài: “Được rồi, để tôi tìm kiếm các báo cáo của cảnh sát”.

Miễn cưỡng, bà ta công bố.

“Vào năm 1977, có 3 người sống ở ngôi nhà đó. Martin Anderson, vợ Julia của ông ta, và con trai của họ Peter, họ sống ở đó trong 7 năm.”

“Ông Anderson trở về nhà vào năm 1976 sau khi phục vụ hải quân tại Philippines trong cuộc chiến tranh Việt Nam.”

“Năm 1977 khi thảm kịch xảy ra. Khi thức dậy vào một buổi sáng, ông Anderson nói rằng vợ ông ta không ở trên giường bên cạnh ông ấy.”

“Sau khi tìm kiếm ngôi nhà, ông Anderson kiểm tra phòng ngủ của con trai mình để tìm Peter. Cả hai tay và miệng Peter đã ướt đẫm máu.”

“Ông Anderson phát hiện ra cơ thể của vợ mình dưới giường của con trai mình. Khuôn mặt và cổ của bà ấy đã bị xẻ ra từng mảnh.”

“Sau ngày hôm đó, các điều tra viên xác nhận rằng khuôn mặt và cổ của bà Anderson đã bị làm thịt bởi con trai 7 tuổi của cô.”

P/S: vì vnsharing không có bản dịch phần 3 nên bài này mình tự dịch. Trình độ hơi kém nên có nhiều chỗ dịch không được hay. Mong các bạn bỏ qua.

Copy nhớ ghi rõ nguồn: ghosilent.blogspot.com & mystown.com

——- Phần 4 ——-

Tôi rời khỏi công ty bất động sản ấy trong sự bàng hoàng và sợ hãi. Tuy nhiên, tôi không hề ra về tay không mà đã kịp thời lưu lại số điện thoại mình cần.

Ông Anderson vẫn còn sống ở cái tuổi 72, và số điện thoại này là của ông ấy. Thực ra mà nói thì đây là số điện thoại của nhà dưỡng lão, nơi ông ấy ở hiện tại, cách thị trấn này khoảng 3 cây số.

Tôi trở về nhà vào lúc 5 giờ chiều. Thả mình xuống chiếc ghế sofa, tôi lấy điện thoại di động ra thử liên lạc với số trên. Sau khi nói chuyện với một cô gái (chắc là cô nhân viên quầy tiếp tân), cuộc gọi của tôi được nối đến căn phòng của ông Anderson.

“Ai đó?” một giọng nói cộc cằn từ đầu dây bên kia.

“Xin chào ông Anderson, tên tôi là Mark Gordon. Theo tôi được biết thì ông là chủ sở hữu cũ của căn nhà tôi đang ở số 12 đường Eastvine và tôi…”

Click. Âm thanh tiếp theo mà tôi nghe thấy chỉ là tiếng rè cho biết người mà tôi đang gọi đã cúp máy.

Tôi ngồi trên ghế một lúc, hơi chấn động, nhưng rồi tôi chợt nhớ lại quá khứ kinh hoàng mà ông Anderson phải trải qua khi còn ở căn nhà này. Tôi thử gọi lần nữa.

Sau khi được kết nối một lần nữa, tôi được “chào hỏi” bởi ông Anderson một lần nữa:

“Ai đấy” ông hỏi lần nữa, giọng của ông có vẻ còn cộc cằn hơn trước.

“Là tôi, Mark Gordon đây. Thưa ông, xin hãy nghe tôi nói một lúc…”

Không nghe thấy tiếng gì cả, tôi đoán là ông ta vẫn chưa cúp máy! Tôi tiếp tục vào vấn đề.

“Như đã nói, hiện giờ tôi đang sinh sống tại căn nhà ông đã ở trước đây. Tôi được nghe nói về bi kịch đã xảy ra với gia đình của ông và thành thật chia buồn, tuy nhiên cho tôi xin phép được gặp ông trực tiếp để hỏi thêm một số nghi vấn.”

“Mày là một thằng nhà báo chó chết nào đó, phải không?” ông đột nhiên gầm lên “Tao đã nói một lần, và tao sẽ nhấn mạnh điều này một lần nữa, nghe cho kỹ đây, tao không muốn nhắc lại những kí ức đó nữa!”

“Thưa ông, tôi không phải là nhà báo ạ. Tôi cũng chẳng phải đi tìm tư liệu kí sự gì. Tôi chỉ muốn nói chuyện về căn nhà. Có một vài điều quái dị đang xảy ra ở đây và tôi mong rằng ông có thể chia sẻ một vài thông tin về nó.”

Sự im lặng bao trùm kèm theo một tiếng thở dài.

“Đến vào ngày mai. Ta cóc quan tâm vào lúc mấy giờ, nhưng tao sẽ không hé lộ cái gì trừ khi chú mày mang đến một ít rượu.”

* * * * *

Ngày hôm sau là ngày thứ bảy, Annie đã đưa Elias đến thăm ông bà của nó. Thật đúng lúc mà tôi cần, vì bây giờ tôi không phải mất thời gian giải thích với vợ mình đi đâu với một chai rượu bourbon whisky trên tay.

Chuyến đi đến nhà dưỡng lão Shady Elms tốn hơn 3 tiếng đồ do kẹt xe, nhưng tôi đã đến đó vào khoảng 12 giờ rưỡi trưa. Tôi bí mật giấu chai rượu trong túi áo khoác.

Cô nhân viên tiếp tân chào hỏi, chắc có lẽ cũng là cô gái hôm qua mà tôi gọi điện đến.

“Tôi đến đây vì có hẹn với ông Anderson.” Tôi nêu lí do chuyến viếng thăm này.

“Tất nhiên rồi. Anh là Gordon, đúng không?” Cô ấy trả lời do khi dò quyển sổ đặt hẹn. Tôi khẽ gật đầu xác nhận.

Tôi được chỉ dẫn đến phòng 102 bởi một nhân viên khác. “Anderson chưa có ai đến thăm mấy năm rồi” anh ta cho biết, nhìn tôi với ánh mắt tò mò. Có lẽ anh ta đang tự hỏi vì sao tôi lại đến thăm một ông già mà tôi chả có dây mơ rễ má gì. Tôi cười nhạt “Thật vậy à?”

Nam nhân viên ấy gõ cửa phòng và mở ra. “Ông Anderson, khách của ông đến rồi này” anh ta thông báo. Sau khi bước vào căn phòng, tôi nhận thấy ông Anderson đang ngồi trên chiếc ghế sofa và coi truyền hình. Ông ấy gầy, cao lêu nghêu với khuôn mặt không hề biểu cảm cùng đôi mắt lạnh lùng và môi mím chặt. Ông ta ra dấu bảo tôi ngồi xuống cái ghế kế bên.

Sau khi tôi ổn định vị trí, ông ấy bất ngờ đưa tay ra cho tôi. Tôi cũng giơ tay ra để bắt.

“Không phải, thằng ngu,” ông ngao ngán nói. “Đưa ta chai rượu”

Tôi móc chai rượu từ phía dưới áo khoác và đặt nó vào bàn tay vẫn còn đang giơ ra của ông lão.

“Black Eagle Bourbon” ông nhận xét, mở nắp chai, “Dễ thương làm sao”

Rõ ràng ông ta tỏ ý chê bai chai rượu mà tôi đã chọn.

“Được rồi, vào việc chính đi. Chú mày muốn gì,” vừa hỏi, ông nốc một ngụm rượu.

“Vâng, thưa ông Anderson-“

“Martin” ông cắt ngang.

“Vâng, Martin. Ông từng sống trong căn nhà mà tôi hiện đang trú ngụ. Tôi có một người vợ cùng đứa con 5 tuổi. Dạo thời gian gần đây, tôi nhận thấy con trai tôi có những biểu hiện kì lạ, và một vài điều bí ẩn đã xảy ra ở ngôi nhà trong mấy ngày trở lại đây-”

“Để ta nói thẳng cho chú mày biết,” ông ấy ngắt lời tôi lần nữa, tranh thủ hớp thêm một ngụm. Ông ta nhìn chằm chằm vào mắt tôi.

“Hồi năm 1969, ta phục vụ trong lực lượng hải quân Hoa Kỳ”

Tôi ngỡ rằng câu chuyện giữa chúng tôi bắt đầu đi lạc đề.

“Trong chiến tranh Việt Nam,” ông tiếp tục, thỉnh thoảng lại hớp một ngụm, “Ta đóng quân ở bên Philippines. Trung đoàn của ta không mạnh về cận chiến , và bọn ta cố tránh đánh nhau nếu không thực sự cần thiết. Sau khi đám lính của quân ta xâm nhập vào khu vực được cho là căn cứ quân địch, bọn ta đi sau để [dọn dẹp]”.

Tôi không biết câu chuyện này sẽ dẫn đến đâu, nhưng đành phải ngồi nghe.

“Công việc của bọn ta là xử lí đám dân địa phương ở đấy, những kẻ không liên quan trong cuộc chiến. Bọn ta tạm thời dẫn chúng đến nơi khác để trú, trong khi đám lính Mỹ như ta đây sẽ lục lọi tìm kiếm đám lính Việt.”

“Thỉnh thoảng, một vài đứa địa phương tỏ rõ sự bất đồng. Chúng không thích việc buộc phải rời khỏi nơi chúng ở. Cá nhân ta không trách họ.”

Khi Martin đặt chai rượu xuống chiếc bàn trước mặt, tôi nhận thấy lượng Bourbon đã cạn một nửa. Ông ta nhìn tôi với con mắt vô hồn.

“Vào năm 1973, trung đoàn của ta đánh chiếm thêm một làng khác. Bọn ta không tìm thấy thằng lính nào, và bọn địa phương cũng chẳng muốn nhìn thấy mặt bọn ta. Một số thậm chí còn đánh tụi ta. Bọn ta ít khi nào làm hại đến dân làng, nhưng một vài lúc buộc phải dùng đến vũ lực.”

“Ta nhớ có một bà mẹ cố gắng ghìm giữ trong vô vọng đứa con trai đang ra sức tấn công tụi ta. Thằng đó có cầm một khẩu súng. Mấy người thuộc trung đoàn đang trấn áp đám dân, nên ta cho rằng chỉ có mình ta nhận thấy cảnh của hai mẹ con này.”

“Thoát khỏi vòng tay của người mẹ, thằng ấy chạy về phía ta đứng và chĩa súng vào người ta. Để phòng vệ, ta cũng chĩa súng về phía nó.”

Martin gục đầu vào hai tay của mình khi tiếp tục câu chuyện.

“Ta đã bắn chết hắn với hai phát đạn” ông thở dài. “Mẹ của nó chạy đến và gục khóc trên thi thể con trai bà.”

“Bà ta khóc cỡ nửa tiếng đồng hồ trong lúc bọn ta còn đang bận bịu trấn áp những kẻ khác. Chúng ta đã tính đến việc chuyển bọn dân địa phương đến một nơi khác nếu cần thiết. Sau đó, người mẹ kia đột nhiên chạy đến chỗ ta và gào thét ầm ĩ.”

“Ta lúc đó không biết phải làm gì. Ta không sợ người phụ nữ ấy, nên khi bà ta bắt kịp, ta nắm tay bà ấy và đẩy bà ra xa. Bà ta gào rú với thứ tiếng Tagalog, ngôn ngữ bản địa”

“Bà ta còn phỉ nhổ vào người ta. Khi cố gắng lau chùi, ta chợt nhận ra thứ bà ta nhổ chính là máu của bà. Ta dùng sức trấn áp bà, nhưng ta không thể ngăn chặn bà ta đưa ra những lời nguyền rủa.”

“Những lời nguyền rủa?”

Martin ngước đầu lên nhìn tôi.

“Bà ấy nguyền rủa do ta đã ra tay sát hại con trai bà. Do đã đóng căn cứ ở Philippines một thời gian dài, ta cũng nhận ra những từ cơ bản trong ngôn ngữ của họ, cho nên ta có thể hiều từng chữ của bà ấy to và rõ.”

“Bà ấy đã nói những gì?” Tôi hỏi, vẫn chưa chắc câu chuyện này sẽ hướng đến đâu.

Bà ta hét“mày đã giết con tao, tao sẽ nguyền rủa mày! Tiyanak! Tao nguyền rủa mày! Tiyanak! Mày sẽ phải chịu đựng đau khổ khi đứa con tiếp theo được sinh ra.”

Martin ngừng kể sau đó. Tôi rợn sống lưng khi nghe những lời nguyền rủa ấy.

Tôi phá vỡ sự im lặng, “tôi có thể biết “tiyanak” mang ý nghĩa gì không?”

“Một tiyanak,” Martin trả lời, “là một sinh vật trong truyện cổ tích người dân Philippines. Người ta truyền rằng, chúng sẽ được sinh ra khi một người mẹ bị sẩy thai. Đứa con chết yểu đó sẽ trở thành Tiyanak, mang hình dáng của một đứa bé và một con quỷ thật sự. 

Một khi được “sinh ra”, tiyanak sẽ không ngừng phá rối cho đến khi chúng tàn phá người mẹ của chúng, người lẽ ra đã cho chúng sự sống lành mạnh nhưng không thể.”

Tôi nhận thấy Martin bắt đầu rơi lệ. Tôi đặt bàn tay lên vai ông một cách ân cần.

“Peter, con trai của ta, không phải là người giết mẹ nó! Peter không phải là người giết mẹ nó!” Ông khóc.

Tôi chợt im lặng một lúc.

Ông bắt đầu lấy lại sự bình tĩnh. “Mọi người cho rằng ta bị điên khi một mực phủ nhận điều đó, do vô số chứng cứ trên hiện trường đều hướng về phía con trai Peter của ta. Họ đã đem nó khỏi ta và giao nó cho một gia đình nhận nuôi chỉ vì quan tòa nghĩ rằng ta không đủ tư cách làm cha.”

“Thế cậu ta hiện giờ đang ở đâu?”

Martin lắc đầu, “không biết. Vài ngày sau vụ án, cảnh sát cho biết nó đã biến mất. Lúc đầu, họ nghi ngờ ta đã bắt cóc nó, nhưng điều đó là không thể nào vì lúc Peter biến mất, ta vẫn còn đang ở tòa án.”

Martin bắt đầu trở nên giận dữ và mất tự chủ. Ông nhìm chằm chằm vào mắt tôi, nghiến răng.

“Con trai ta không giết cô ấy. Không phải là Peter. Là một thứ khác. Ta biết. Không phải là con ta làm.”

“Làm thế nào mà ông biết chắc chắn?” tôi ngập ngừng hỏi.

Martin không hề rời mắt khỏi tôi. “Bởi vì,” ông tiếp tục

“Khi ta bước vào phòng của con trai ta vào buổi sáng hôm ấy, ta nhận ra rằng, Peter không phải là đứa nằm trên giường. Dù nó là thứ gì đi nữa, nó nhìn rất giống Peter, nhưng nhỏ hơn. Không bao nhiêu cả.”

“Nó nhìn cứ như em trai của Peter hay thứ gì tương tự.”

——- Phần 5 ——-

Đứa em trai.

Ba từ ấy cứ hiển hiện trong đầu tôi.

“Bố ơi? Con có người em trai nào không ạ?”

Tôi cảm thấy buồn nôn mỗi khi nghĩ đến việc ấy. Giờ tôi có thể hiểu tại sao Martin bắt tôi đem rượu đến cho ông. Không một người bình thường nào có thể đủ tỉnh táo để mà kể những sự việc bệnh hoạn ấy. Sau vài giây im lặng, ông nói tiếp:

“Ta trở về từ Philippines vào tháng 2 năm 1977 và được tuyên dương khi xuất ngũ, và vài tháng sau đó…”

Câu chuyện của ông lâu lâu bị đứt quãng. Tôi chờ ông lấy lại sự bình tĩnh.

“…một vài tuần sau đó, vợ tôi, Julia thông báo rằng bà đã mang thai. Tất nhiên là ta biết tại sao bà ấy mang thai,” ông nói chuyện một cách đùa giỡn, “nhưng tại thời điểm đó, ta chưa hề đếm xỉa gì tới lời nguyền rủa của người đàn bà kia. Ta có đôi chút hoảng sợ khi nghe nó, nhưng thật điên rồ nếu cứ tin răm rắp những lời hù dọa ấy.”

“Tuy nhiên, sau khi Julia mang thai được 8 tháng, ta bắt đầu có lí do để sợ.”

“Đó là vào ngày 2 tháng 10. Vợ ta đang ở trên lầu bận dọn dẹp phòng ngủ của Peter. Ta lúc ấy thì đang ở ngoài vườn. Đột nhiên, bà ấy hét thất thanh , khiến ta bỏ dở tất cả và lao vào nhà chạy ngay lên trên lầu. Bà ấy bị vỡ nước ối.”

“Ta liền gọi xe cấp cứu, bởi vì ta không muốn mạo hiểm một mình chở bà ấy đến bệnh viện. Những nhân viên y tế có mặt rất nhanh, nhưng có lẽ đã quá trễ…”

“…đứa trẻ chết non. Bà ấy rất đau khổ. Nhân viên cứu hộ đưa Julia, Peter và cả ta đến bệnh viện để có thể chăm sóc chu đáo cho bà ấy sau quá trình đẻ non. Bọn ta quyết định hỏa táng cơ thể của đứa bé chết yểu trong dạ non của bà. Ít nhất là bọn ta muốn..”

Sự im lặng bất chợt.

“Thế ông có hỏa táng nó hay không?” tôi tỏ ra hiếu kì.

“Không”, ông thì thào, nhìn chằm chằm vào mắt tôi. “Các bác sĩ trong bệnh viện không tài nào tìm thấy xác của đứa trẻ. Họ không biết nó đã biến mất nơi đâu.”

* * * * *

“Vài ngày sau vụ bể nước ối, ta bắt đầu nhận thấy những biểu hiện kì lạ của Peter.” Martin tiếp tục câu chuyện, “Nó cứ khăng khăng cho rằng nó gặp một đứa bé nhìn y hệt nó vào mỗi tối, cứ như là một phiên bản nhỏ hơn của nó. Ta quyết định phớt lờ những biểu hiện kì lạ đó một thời gian. Cả nhà ta đều đau buồn về vụ đẻ non của vợ ta. Ta cho rằng con trai mình đơn giản chỉ gặp phải ác mộng…cho đến khi ta tận mắt chứng kiến sự việc vào đêm nọ.”

“Ta nghe tiếng con trai mình nói chuyện vào một đêm hôm, vào khoảng 11 giờ đêm, ta nghĩ thế. Ta đã rất tức giận khi vào giờ đó, nó lẽ ra phải lên giường mà ngủ rồi. Thế là ta quyết định rời khỏi giường và đi ngang sảnh để đến chỗ phòng của Peter. Ta nhận thấy nó đã đứng ngay trong sảnh phía đầu bên kia.”

“Peter! Tại sao đến giờ này con còn thức? Peter!”

“Nó không trả lời ta. Ta bắt đầu tỏ ra nóng giận và bước gần đến nó và bật đèn sảnh lên. Thứ mà ta thấy không phải là con trai ta. Tuy nhiên, nó nhìn rất giống. Da của nó trắng bệch, khô khan và nứt mẻ. Ta thậm chí có thể thấy mớ thịt lòi ra dưới lớp da sứt mẻ ấy. Từ khóe mắt là nước mắt…đỏ tươi của máu. Và răng của nó thì…răng của nó cứ như một dãy kim khâu vậy.”

“Ta đã thét thất thanh khi gặp nó, và vô tình vấp té trong lúc cố gắng rời khỏi chỗ đó càng sớm càng tốt.” Martin tiếp tục kể và khuôn mặt của ông trở nên dữ tợn hơn. “Nhưng khi ta quay lại, nó đã biến mất! Ta ngồi gục trên sàn một lúc và tự hỏi liệu ta vừa mơ về con quái vật ấy hay không. Ta cố gắng đứng dậy và lết đến phòng con trai mình và thấy nó vẫn ngủ trên giường.”

“Hoặc ít nhất thì ta đã nghĩ nó là con trai của ta trên giường…Buổi sáng sau đó, cuộc đời ta chuyển biến đầy đột ngột. Vợ ta bị giết. Con ta bị đổ tội giết người. Còn ta thì bị gán cái mác “điên khùng”.

* * * * *

Tôi trở về nhà trễ hơn là mình tưởng; 5:00 giờ chiều. Bước vào nhà, con trai tôi reo lên “Bố về rồi” và ôm chầm lấy tôi. Cả nó lẫn vợ tôi đang thầm hỏi tôi vừa đi đâu mà về trễ đến vậy. “Anh buộc phải làm thêm một số việc trên trường. Nhiều giấy tờ cần giải quyết gấp,” tôi nói dối trắng trợn. Tôi không muốn hé lộ những gì mà tôi và Martin đã trò chuyện trước đó. “Bữa tối đã chuẩn bị xong, chúng ta dùng bữa thôi!” Annie thông báo.

“Đợi đã mẹ ơi, cho con lên lầu lấy Wilbur!” Elias đột nhiên cất giọng, toan rời khỏi bàn ăn. Wilbur là con voi nhồi bông ưa thích của nó. “Con yêu, Wilbur có thể đợi, hãy dùng bữa của con trước – kẻo đồ ăn nguội bây giờ!” vợ tôi chặn lại.

Elias quay lại ghế ngồi với khuôn mặt rầu rĩ. Nó thường đem theo Wilbur mỗi khi ăn, và mỗi khi nó để quên Wilbur, nó thường không thèm ăn cho đến khi gặp lại Wilbur yêu dấu của nó.

“Để bố lấy Wilbur cho, con trai. Bố cũng phải lên lầu lấy một số thứ nữa, nên cũng tiện.” Tôi trấn an thằng bé. Rời khỏi bàn ăn, tôi đi về phía cầu thang. “Cám ơn bố nhiều lắm lắm” tiếng Elias vọng lại từ phía sau.

Có thật là tôi cần lên lầu lấy một vài thứ? Không. Không hề. Tôi chỉ lấy nó làm cái cớ để vào phòng con trai tôi…Nguyên là căn phòng trước đây của Peter.

Khi tôi bước lên cầu thang, chân tôi đá phải thứ gì đó trên bậc. Nhìn xuống, tôi nhận ra đó là cái gì.

Chiếc máy bộ đàm thu tín hiệu. Thứ mà ngày trước tôi đã làm mất và không bao giờ tìm thấy.

Tại sao nó lại ở đây?

Tôi dừng lại, lượm nó lên và tiếp tục đi ngang sảnh đến phòng ngủ của Elias. Tôi chợt nghe thấy tiếng động từ chiếc máy bộ đàm. Tôi đứng lại và để chiếc máy kề sát tai. Tôi nhận ra tiếng gõ nhẹ và tiếng cào. Trong lúc vẫn dí sát tai chiếc máy ấy, tôi tiếp tục đi đến phòng của Elias và lấy con voi nhồi bông trên giường.

Cái mùi kì lạ ấy lại thoang thoảng như mời chào tôi mỗi lần tôi bước vào căn phòng này. Vẫn cái mùi thối rữa đầy khó chịu ấy, như có sinh vật nào đã chết.

Tôi quay trở ra và phát hiện một bóng đen ngoài cửa, đầu nghiêng sang một bên. Giật mình, tôi giơ tay cao nhằm tự vệ, nhưng bóng đen ấy không hề động đậy. “Elias?” tôi thì thào. “Có phải con đấy không?”

Im lặng.

Ngay khoảnh khắc sau đó, đột nhiên giọng nói phát ra trên máy bộ đàm.

Không, con trai của bố. Con không có người em trai nào cả. Giọng nói của chính tôi phát ra từ chiếc máy.

Bố có chắc là con không có không. Giọng nói của Elias nối tiếp.

Ừ. Bố chắc chắn.

Âm thanh từ chiếc máy tắt hẳn. Tôi ngước mặt nhìn về phía ngoài cửa, nhưng thay vì là bóng đen lù lù ở phía cửa, nó chỉ còn cách khuôn mặt tôi vài inch.

“AHH!” Tôi thét lên, bay người về phía sau và té xuống sàn. “CỨU! CỨU!” Tôi la toáng lên.

Đèn phòng bất chợt được bật sáng ngay tức khắc và vợ tôi lao ngay vào phòng. “Mark! Chuyện gì xảy ra vậy? Anh có sao không?” cô ấy rú lên. Tôi gượng đứng dậy, mừng rỡ khi thấy đèn phòng sáng trưng. Nhìn quanh quất căn phòng, tôi nhận ra hai điều: thứ đó đã biến mất, và chiếc máy bộ đàm bốc hơi lần nữa.

“Xin lỗi, Annie,” tôi xin lỗi, “Anh…anh vấp phải thứ gì đó. Khỉ thật, mắt cá chân anh đau quá.” Tôi mở miệng nói dối lần nữa.

“Mark, anh làm em sợ phát khiếp đấy” cô ấy tỏ ra hờn dỗi, rời khỏi phòng và trở xuống cầu thang. Ước gì cô ấy biết tôi đã sợ chết khiếp ra sao. Khuôn mặt mà tôi nhìn thấy giống hệt con trai tôi, chỉ trừ việc nó trắng bệch và vài vết nứt nhìn cứ như tự phục hồi vậy.

Cứ như thể quá trình biến đổi thành con trai tôi của nó đã sắp hoàn tất.

Quay trở lại với Elias tại bàn ăn, tôi đưa con Wilbur cho nó. “Con trai, con có muốn ngủ chung với bố mẹ vào đêm nay không?” tôi hỏi. Dĩ nhiên nó đồng ý.

* * * * *

Tôi thà chết chứ không thể để Elias ngủ riêng một mình trong căn phòng đó. Nhưng khi Annie và Elias chìm vào giấc mộng của riêng mình, tôi vẫn thức trắng trong cơn ác mộng này.

Lúc đấy đã là 9:50 tối. Elias thường không được thức vào giờ này, nhưng vì nó ngủ chung, chúng tôi cho phép nó. 30 phút trôi qua và tôi yên tâm khi biết cả hai đã chìm vào giấc ngủ.

Đã đến lúc hành động. Tôi cất giữ một khẩu súng nhỏ .45 trong kệ tủ kế bên giường, phòng những trường hợp tôi thực sự cần đến nó.

Vào đêm hôm đó, tôi thực sự mừng khi đã quyết định sở hữu khẩu súng này.

Trong bóng đêm, tôi mò mẫm chìa khóa ngăn kéo cửa tủ, đã được đặt trước trên kệ tủ. Tay tôi vớ được chìa khóa, nhưng đồng thời cũng túm phải một thứ khác.

Chiếc máy bộ đàm.

Hoảng sợ, tôi nhìn quanh căn phòng. Không có gì cả. Whew.

Cầm khẩu súng và chiếc máy bộ đàm trên tay, tôi nhẹ nhàng chui ra khỏi giường mà không gây ra tiếng động gì. Rón rén, tôi mở cửa phòng ra ngoài và đến phòng ngủ của Elias.

Tôi dự định sẽ ngủ ở đấy suốt đêm nay. Ngủ với khẩu súng được giấu dưới chiếc gối. Nếu thứ đó xuất hiện vào đêm đó một lần nữa, tôi biết mình phải làm gì.

Chỉ có một mình tôi trong phòng. Không có gì dưới gầm giường. Không có gì trong tủ quần áo.

Tôi cẩn thận khóa cửa phòng trước khi trèo lên giường. Tôi chắc chắn không muốn thứ đó thoát khỏi nơi này nếu nó đột nhiên xuất hiện.

Tôi nằm trên giường, cố gắng căng mắt thức trắng, và chủ quan cho rằng điều này thật dễ dàng nếu tính đến độ căng thẳng mà tôi phải trải qua mấy ngày gần đây.

Nhưng vào khoảng 11 giờ đêm, tôi thiếp đi lúc nào không hay…

* * * * *

“Bố? Bố , dậy mau! Nhanh lên!” Giọng nói ấy đánh thức tôi dậy.

Mở mắt ra, tôi nhìn quanh căn phòng. Đứng phía bên chiếc giường là Elias. Nó nhìn có vẻ lo lắng.

“Elias? Sao giờ này con chưa đi ngủ nữa? Chuyện gì vậy?” tôi hỏi, kiểm tra chiếc đồng hồ. 1:34 khuya.

“Bố ơi, con nghĩ con vừa thấy nó một lần nữa. Đứa em trai của con ấy,” nó thì thào. “Nó đang ở trong phòng cùng với mẹ”

“Cái gì? Ở đâu?” tôi buột miệng hỏi, lúc này vẫn đang mắt nhắm mắt mở. Lồm cồm ngồi dậy, tôi lấy khẩu súng được cất kĩ trước đó.

Lúc đó, tôi nhận ra giọng nói của Elias không bắt nguồn từ chính nó. Nó bắt nguồn từ cái máy bộ đàm mà tôi đã đặt trước đó. Chợt trong đầu tôi xuất hiện những suy nghĩ khiến tôi ớn lạnh.

Làm sao mà Elias có thể ở đây…nếu mình đã khóa cửa căn phòng này kĩ càng?

Chầm chậm, tôi quay về phía nơi Elias đứng.

Người mà tôi nhìn không phải là con trai tôi. Đầu nó nghiêng sang một bên, nở nụ cười hiểm độc với tôi. Răng nó cứ như kim khâu vậy. Máu cứ chảy ra từ khóe mắt nó. Hai tay nó vặn vẹo méo mó, dài hơn cánh tay bình thường. Nhìn như móng vuốt vậy. Nó nhỏ hơn Elias, nhưng không nhỏ hơn là bao.

“Tên chết tiệt” Tôi lầm bầm một cách đầy hoảng sợ, nhảy dựng lên và chuẩn bị bóp còi súng.

Nó nhảy xổ vào tôi với tốc độ nhanh như chớp, khiến tôi không còn thời gian để mà phản ứng hay chống cự. Hàm răng sắc lẹm cắm phập vào bắp đùi tôi, trong khi những ngón tay như móng vuốt kia đâm sâu vào bụng tôi.

Tôi chỉ muốn hét lên thật to. Chưa bao giờ trong đời, tôi cảm thấy đau đớn đến vậy.

Sinh vật này nhẹ hơn tôi tưởng, nên tôi nhanh chóng vật lộn và đè nó xuống đất và phang hộp sọ của nó bằng khẩu súng đang cầm tay. Cuối cùng răng của nó cũng nhả bắp đùi của tôi. Con Tiyanak đột nhiên nhảy vọt ngang đầu tôi, bò trên thành tường cứ nhứ một con nhện quái dị.

Nó đã biến mất. Làm thế nào? Làm thế nào mà nó có thể rời khỏi căn phòng này? Làm gì còn chỗ hở nào mà thoát ra chứ? À, mà trước sau gì thì các giác quan của tôi về thực tại có vẻ như bị bóp méo trong mấy ngày gần đây cơ mà.

Ngay lúc ấy, tôi nghe thấy hai tiếng thét từ căn phòng phía bên kia sảnh.

Phòng ngủ vợ chồng tôi! Annie và Elias!

Cố gắng gượng dậy, tôi lếch thếch chạy qua căn phòng ấy nhanh nhất có thể.

Cả Elias lẫn Annie đều đang ngồi co rúm trên giường khi tôi xông vào. Elias chỉ về phía sau lưng tôi, và tôi quay phắt lại. Đó chính là con Tiyanak, đang bò trên thành tường bằng tứ chi.

Tôi bóp cò súng liên tục, nhưng vẫn không đủ nhanh. Con Tiyanak nhảy khỏi tường tiến về phía Annie. “KHÔNG!” tôi rống lên, tóm gọn con sinh vật ghê tởm ấy trên không trung.

Nó khỏe hơn là tôi tưởng, và mặc dù đây là lần thứ hai phải đánh vật với nó, nó bắt đầu cấu xé, gây thương tích trên mặt tôi và phát ra thứ tiếng kinh khủng.

“Hãy chạy đến phòng của Elias và khóa cửa lại, NHANH ĐI!” tôi la to với Annie, lúc này đang co rúm dưới sàn nhà. Túm chặt Elias, cô ấy liền chạy về phía cửa. Tuy nhiên, tôi không thể giữ chặt Tiyanak lâu hơn, nó thoát khỏi đôi tay của tôi…

…và lao đến chỗ vợ con tôi tận sảnh.

Chạy ngang sảnh, tôi nhận thấy một điều còn kì lạ hơn.

Sự im lặng bất chợt.

Đứng trước cửa phòng Elias, tôi gõ cửa. Cửa đã khóa. “ANNIE! HÃY MỞ CỬA!” Tôi hét lớn. Cô ấy liền mở ra.

Tôi đã sẵn sàng với khẩu súng lăm lăm trên tay và nhìn quanh căn phòng, tìm kiếm con quái vật.

Chẳng có gì.

“Elias đâu rồi?” tôi bắt đầu thở dốc. Máu bắt đầu tuôn ra từ phần đùi và mũi của tôi.

Annie đang cố nói gì đó nhưng vẫn còn đang khóc trong trạng thái hỗn loạn. Cô ôm khư khư trong tay cây gậy đánh bóng chày bằng nhôm Elias hay dùng khi chơi T-ball.

“Nó đang ở đâu?!” Tôi lặp lại có phần lớn tiếng hơn, nỗi lo lắng càng tăng cao.

“Đừng lo,” cô ấy nghẹn ngào. “Em nghĩ thứ ấy đã biến mất rồi. Nó biến mất ngay sau khi em bảo Elias trốn phía dưới gầm giường”

Tôi nhìn cô ấy một cách đầy kích động. Hàm và hai tay của tôi bắt đầu run rẩy.

[Bọn con chơi nhiều thứ lắm. Nhưng con không thích chút nào khi nó cứ bắt con chui xuống gầm giường.]

“ELIAS!” tôi thét lên “ELIAS!”

Quăng khẩu súng qua một bên, tôi dùng cả hai tay cầm thành giường và dỡ lên. Ở phía dưới chính là Elias, sợ sệt và la hét.

Tôi bế nó lên và trấn an: “Mọi chuyện ổn cả rồi, Elias. Nó đã đi rồi. Bố không biết nó đi đâu, nhưng nó đã đi rồi.” Tôi hướng về phía Annie, “Chuyện gì đã xảy ra khi nó đến đây?”

Cô ấy tựa lưng vào thành giường kể lại “Nó…nó nhảy lên giường, có lẽ nó biết Elias đang trốn dưới gầm giường. Khi em vung gậy đánh nó, nó tự động…tan rã ra.”

Bế Elias trên tay, tôi bật đèn lên và thấy một đống tro bao phủ khắp mặt giường.

“Nó chết chưa?” vợ tôi hỏi, giọng cô vẫn đầy hoảng sợ.

“Anh không biết. Có lẽ vậy. Hiện tại thôi. Chúng ta cần phải rời căn phòng này ngay. Khóa cửa lại. Anh cần dọn dẹp và đến bệnh viện ngay.” Tôi trả lời.

Máu vẫn cứ tứa ra từ vết thương ở chân và mũi. Tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng.

Tôi để cho Annie bồng Elias. Nắm chặt tay cầm ở cửa, tôi nhờ cô ấy gọi cảnh sát giúp.

…Nhưng trước khi tôi bất tỉnh, tôi không thể không nghĩ đến việc cảm thấy Elias thật bé nhỏ trên đôi tay mình và vì lý do gì, một vài vết máu xuất hiện ở những chỗ nó dụi vào áo tôi?

* * * * *

Tiếng còi ầm ĩ của xe cảnh sát lẫn xe cứu thương gây chấn động cả xóm vào lúc 11:31 trưa.

“Số 12 đường Eastvine,” một viên cảnh sát báo cáo cho một cảnh sát khác. “Xem ra là gia đình của ba người, họ là Gordon,” anh nói trong lúc người kia hí hoáy ghi chép lại.

“Tôi không hiểu về động cơ gây án của người chồng khi giết vợ mình.” người ghi chép đặt câu hỏi.

Họ cùng hướng mắt về phía những nhân viên y tế đem túi xác của bà Annie Gordon trên cáng.

“Hoàn toàn phá hủy phần cổ và khuôn mặt bà. Đúng là một tên tâm thần.” người ghi chép tiếp tục nói.

“Hiện giờ chúng ta vẫn chưa thể xác định liệu có phải ông ta là người gây ra vụ án,” người cảnh đầu cho biết “Trước sau gì thì chúng ta tìm thấy thi thể của bà Gordon dưới gầm giường của đứa con trai 5 tuổi.”

“Vậy anh cho rằng thằng bé giết chính mẹ của mình?” người thứ hai hỏi.

Họ tiếp tục quan sát hai nhân viên y tế khác bước ra từ căn nhà. Một trong số họ đang bế Elias Gordon. Khuôn mặt và bàn tay của đứa trẻ dính đầy máu.

“À,” viên cảnh sát đầu tiên tiếp tục. “Ông Gordon được tìm thấy đã bất tỉnh trước đó.Những nhân viên pháp y cho biết ông đã bất tỉnh hơn 9 tiếng đồng hồ. Họ cũng khám xét và đưa ra kết quả cho thấy bà Gordon chết khoảng 6 tiếng đồng hồ. Một người bị bất tỉnh không thể giết ai được”

Người cảnh sát thứ hai cười thầm: “Tôi thì không tin như vậy. Tôi không cho là hắn đã bất tỉnh thời gian lâu đến vậy. Hắn thật sự là một kẻ bị điên…”

“…hắn thậm chí cho rằng đứa bé kia không phải là con của hắn”

Câu chuyện đến đây xin được kết thúc. Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian theo dõi đến phút cuối cùng.

Tên dịch giả: YaMiDowaKi
Nhóm dịch: Consternated Team
Nguồn: http://www.reddit.com


Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.