[Chuyện có thật] Rodrigo, nhóc dưa gang – người bạn nhỏ của tôi


Rodrigo, nhóc dưa gang – người bạn nhỏ của tôi

Mùa xuân năm 2007, tôi nhận công việc dạy thay tiếng Anh cho một trường công cấp hai ở thị trấn Marilao, Phillipines. Đó là những ngày nóng và ẩm ướt, không khí sặc mùi ô nhiễm, nhưng tôi được làm việc cùng những người Phillipines luôn tươi cười, và lúc nào cũng thấy tôi thú vị chỉ vì tôi là người da trắng. Bỏ nhỏ: bia ngon, đồ ăn rẻ, và hoàng hôn rực lửa tỏa ánh đỏ ối mà rực rỡ.

Khoảng thời gian này, tôi gặp một câu bé dễ mến nhất trên đời. Tên cậu là Rodrigo Alvarez.

Ngày đầu tiên nói chuyện với cậu, tôi đang ăn trưa với món lugaw – cháo gừng trộn tương đỏ – dưới gốc cây, chờ cái nóng dịu bớt. Và đột ngột, như từ trên trời rơi xuống, một cậu bé chạy về phía tôi. Áo cậu nhóc lấm bẩn, còn cái quần kaki đầy bùn đất. Cậu toét miệng cười hét cỡ.

“Thầy làm gì đấy?”, cậu nhóc nói bằng thứ tiếng Anh nặng ngữ điệu địa phương. “Thầy đang ăn trưa à thầy Karl?”

Tôi cười to và trả lời. “Yep. Đúng vậy, Rodrigo.”

“Được không? Ngon không?” cậu nhóc hỏi, làm động tác đưa muỗng vào miệng khi vẫn đang mỉm cười và giả tiếng trầm trồ. “Ừm, ngon!” cậu nói vẻ vui sướng.

“Có, ngon lắm, Rodrigo,” tôi đáp. “Em muốn thử không?”

Ban đầu cậu lắc đầu, nhưng khi ăn tiếp, tôi nhận thấy cậu nhóc chăm chú nhìn mình. Cuối cùng, tôi khăng khăng bảo cậu thử một miếng. Toe toét cười, mũi lấm tấm vệt nước, cậu nhóc cầm lấy cái thìa từ tay tôi và chỉ trong chốc lát đã vét sạch phần còn lại của tô cháo. Tôi nhận thấy cậu gầy gò một cách khủng khiếp, với đôi cánh tay giơ xương, và phần bụng phình ra như một quả bóng bay. Khi nhìn xuống cái bát đã trống trơn, cậu trở nên hết sức hối lỗi.

“Xin lỗi! Em xin lỗi thầy!” cậu nói, chắp hai tay lại như thể cầu nguyện.

Tôi lắc đầu. “Không sao đâu Rodrigo, đừng lo!” Tôi vui vẻ đáp. “Em đói lắm phải không?”

Chăm chú nhìn mặt đất, chân khẽ đá những viên sỏi, cậu gật đầu.

“Em đã ăn sáng chưa?” Tôi nói. “Em nên ăn sáng trước khi đi học.”

Cậu bé lắc đầu. “Không, không ăn sáng”, cậu lí nhí. “Nhà em…” cậu nói tiếp, im lặng một chút gãi đầu. Rồi cậu xòe bàn tay trước mặt tôi, chụm ngón cái và ngón trỏ thành một vòng tròn. “Không có tiền. Thầy hiểu không?” cậu đáp.

Tôi gật đầu. “Ừ Rodrigo, thầy hiểu”, tôi đáp. “Nhà em có ai đi làm không?”

Cậu lắc đầu buồn bã. “Chỉ có Kuya Bertie, anh em”, cậu đáp. “Ảnh 12. Làm nhóc dưa gang ở palengke.”

“Mẹ em cũng làm ở đó chứ?” Tôi hỏi. Rodrigo lắc đầu.

Tôi bóp sống mũi và thở dài. Một nghề nghiệp không dư giả gì lắm. Palengke là chợ nổi nơi bán đồ ăn – trái cây, rau củ và thịt – với giá siêu rẻ. Anh cậu bé chắc chắn không đủ khả năng kiếm được nguồn hàng còn tươi. Tôi thấy rất nhiều đứa trẻ như thế – trộm từ những sạp hàng dạo trên phố rồi bán lại, với những món hoa quả ăn cắp bày lay lắt trên những tấm bạt bằng nhựa. Suy nghĩ đó khiến tôi thấy chạnh lòng.

“Nghe này Rodrigo”, tôi nói. “Từ giờ trở đi hãy ăn trưa với thầy, được chứ?” Cậu nhóc nghiêng đầu vẻ nghi ngại, rồi từ từ mỉm cười. Và bật cười to, vòng tay quanh cổ tôi thơm đánh chụt vào má. “Salamat”, cậu nói. “Cám ơn rất rất nhiều.”

————————————————————————————

Cậu bé là một đứa trẻ năng nổ, như quả cầu lửa xẹt qua xẹt lại mọi chỗ. Hiếu động một cách khủng khiếp, và lúc nào cũng tính trêu chọc bạn bè hay rủ chúng chơi cùng. Tôi luôn thấy cậu trong tình trạng ướt đẫm mồ hôi, lớp cổ áo bằng bột hồ trắng lem đầy đất và lá cây cũng như bất cứ đống lộn xộn nào cậu cảm thấy thích lăn xả vào.

Nhưng cậu không bao giờ ác ý. Chỉ là những suy nghĩ hết sức ngây thơ. Cậu luôn vui cười, và niểm vui ấy chỉ lớn hơn mỗi khi chúng tôi ngồi ăn trưa cạnh nhau. Tôi bắt đầu mong đến giờ phút được gặp cậu dưới gốc cây, để kể nhau nghe câu chuyện trong ngày của mình.

Và cậu nhóc mau chuyện một cách khủng khiếp. Cậu kể mơ ước của mình là lớn lên được làm nhà khảo cổ, không phải một viễn cảnh giàu sang ở Philippines, nhưng tôi vẫn khích lệ cậu. Bản thân cũng có chút hứng thú về khủng long, tôi khiến cậu nhóc ngỡ ngàng khi tả về những loài mà tôi biết. “Bốn người đứng chồng lên nhau… một con Tyrannosaurus Rex cao cỡ đó”, tôi nói. Cậu há hốc mồm, rồi kêu lên đầy phấn khích, vòng tay quanh ngực và cố diễn lại hình ảnh con T-Rex cậu tưởng tượng ra. Tôi bật cười chân thành.

Nhưng không phải lúc nào cậu cũng vui vẻ. Một ngày, cậu bé đến gặp tôi, gương mặt nặng trĩu tâm tư về một cuộc sống mà tôi chưa bao giờ tưởng nổi. “Sao thế?” Tôi hỏi khi cậu cầm lấy bát cơm tôi đưa.

“Kuya Bertie’s không làm đủ tiền… Em cần giúp anh ấy”, cậu thì thầm.

“Em cũng bán dưa chứ?” Tôi nói. Cậu đột ngột ngẩng lên, và mỉm cười, nụ cười trĩu nặng sự mệt mỏi của một người già hơn rất, rất nhiều tuổi. “Vâng,” cậu đáp. “Thầy đừng nói với bạn em nhé?”

Tôi gật đầu. “Tất nhiên rồi Rodrigo”, tôi đáp. “Thầy sẽ nói em đi chơi xa hay gì đó.”

————————————————————————————

Cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn nhịp điệu thường nhật của nó ở Marilao. Chậm rãi mà tàn nhẫn, tôi nhận ra con người nơi đây sẵn sàng sinh tồn bằng mọi cách. Những kẻ không bị nghiền nát từ từ chìm khuất dưới bóng tối, trong khi bánh xe số phận vẫn quay tròn không ngừng nghỉ.

Rodrigo càng ngày càng ít đến lớp. Tôi biết mình cần can thiệp vào đời sống của cậu, nhưng tôi không có đủ vị thế để làm thế. Tôi chỉ là khách qua đường, một kẻ trú thân tạm bợ ở Marilao. Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể quay về với Sydney đẹp đẽ, trong khi những người ở đây không còn lựa chọn nào khác. Tôi nghĩ mình không có tư cách gì để định hướng cuộc đời họ.

Và rồi Rodrigo ngừng đến lớp.

Phải mất vài tuần sau tôi mới bắt đầu băn khoăn. Cậu bé đang ở đâu? Những ai biết chỗ cậu sống? Cậu có còn quay lại không?

Một câu hỏi vu vơ với người đồng nghiệp giúp tôi tìm ra sự thật: Rodrigo Alvarez, khi mới 8 tuổi, đã chết. Tôi nghe tim mình nứt vỡ.

Đau buồn, tôi hỏi mọi người tôi gặp được về Rodrigo với nỗi day dứt khủng khiếp – biết đâu tôi đã có thể cứu được cậu? – và hàng loạt thông tin được sắp lại với nhau như thể những miếng ghép hình. Mọi câu hỏi đều hướng về một sự thật căn bản nhất: cậu bé được tìm thấy ở ghế sau một chiếc xe tải bỏ không, mặc trên mình bộ áo váy màu hồng, mascara còn vương trên lông mi.

Một dấu son môi đỏ dính trên cổ cậu, xung quanh là tầm năm, sáu chai bia rỗng. Một chiếc áo đàn ông size XL tìm thấy ở ghế trước. Và chìa khóa một phòng nghỉ chẳng dẫn đến đâu cả.

————————————————————————————

Tôi trở về Sydney không lâu sau đó. Thế giới thật tàn nhẫn, và tôi có thể đương đầu với gần như mọi thứ nó ném ra… nhưng chuyện này thật… kỳ quái. Tôi không tìm được câu trả lời. Không có vì sao, cái gì, hay như thế nào. Chỉ có Rodrigo, câm lặng giữa một nơi hoang vu, trong một hoàn cảnh mà tôi thậm chí không cố hiểu hay hợp lý hóa nó.

Bằng cách nào đó, cuộc sống của tôi dần trở lại như xưa. Nhiều đêm, suy nghĩ về Rodrigo – đã trưởng thành, và là một nhà khảo cổ danh tiếng – trở về đeo bám tôi. Cứ thế, tôi chật vật qua được đại học, và rũ bỏ được niềm đam mê du lịch ngày nào. Tôi tìm được việc. Tôi bắt đầu lập gia đình. Bóng ma của cậu bé, cái hình hài tươi tắn, rực rỡ, và mãi mãi trẻ dại, cũng mờ nhạt dần theo năm tháng.

Chỉ đến khi kể lại câu chuyện này cho một người đồng nghiệp, mọi thứ lại ùa về ám ảnh tôi. Khi tôi tả lại về Ridrigo và việc cậu phải làm để sinh tồn, người đồng sự nhìn tôi, kinh hoàng. “Ôi trời,” anh ta nói. “Lạy Chúa tôi.”

“Sao cơ?” Tôi hỏi anh ta.

“…Anh biết nhóc dưa gang là gì chứ?” anh ta thì thào. “Anh hiểu cụm từ đó nghĩa là gì không?”

“Gì, không…” tôi lắp bắp. “Còn nghĩa nào ngoài…”

“Dưa gang hiểu theo nghĩa rắn chắc tròn lẳn ở ngoài, và mềm mại ngọt ngào bên trong…”

“Lạy Chúa…”

“Thằng bé làm điếm, Karl. Tôi rất tiếc.” Người đồng nghiệp đáp.

Tên dịch giả: bonmat_2000
Nguồn: Reddit


Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.