10 bí ẩn nổi tiếng lịch sử

10 bí ẩn nổi tiếng lịch sử


1. Con tàu Mary Celeste

Là 1 trong những bí ẩn lớn nhất trên biển, là một thương thuyền hai cột buồm của Mỹ nổi tiếng về việc được phát hiện vào ngày 4 tháng 12 năm 1872 ở Đại Tây Dương, không có người và dường như đã bị bỏ không (thiếu một thuyền cứu sinh), mặc dù thời tiết lúc đó tốt và thủy thủ đoàn là những người đi biển rất có kinh nghiệm và năng lực.Số phận thủy thủ đoàn của con tàu đã và đang là chủ đề của nhiều cuộc bàn luận.
10 bí ẩn nổi tiếng lịch sử

Mary Celeste thường được miêu tả như con tàu ma điển hình nhất, vì nó được phát hiện bị bỏ hoang mà không có lời giải thích thỏa đáng nào, và tên của nó cũng được sử dụng như từ đồng nghĩa với các trường hợp tàu ma khác.

Người tìm ra chiếc thuyền,ông Deavau đã báo cáo rằng “cả con tàu hoàn toàn lộn xộn và ẩm ướt.” Chỉ có một chiếc bơm đang hoạt động, với rất nhiều nước giữa các tầng và có khoảng ba feet rưỡi nước trong khoang. Tất cả buồm vẫn được giương lên và vẫn còn tốt. Hàng hóa vẫn còn nguyên. Còn đủ lương thực cho 6 tháng nữa và còn nhiều nước ngọt. Tất cả đồ dùng cá nhân của thủy thủ đoàn (áo quần, giày ống, tẩu thuốc…) đều còn trên tàu. Có một số đồ chơi của trẻ con trên giường của thuyền trưởng. Còn đồ ăn đồ uống trên bàn trong phòng. Cửa sập phía trước và buồng lái đều mở toang, mặc dù cửa hầm bị đóng kín. Chiếc đồng hồ không chạy và la bàn đã bị phá huỷ. Kính lục phân và đồng hồ hàng hải bị lấy đi, cho thấy khả năng con tàu đã bị bỏ rơi có chủ ý.

Chiếc thuyền cứu sinh duy nhất còn lại dường như đã được hạ thủy có chủ định chứ không phải bị cướp đi. Có 2 vết cắt sâu ở mũi tàu, gần đường mớn nước. Có 1 vết chém sâu dọc thành tàu, vết do rìu chém. Trên boong tàu có những vệt máu khô sẫm, và trên thanh kiếm của thuyền trưởng ở trong phòng cũng có vết máu.

Số hàng 1701 thùng cồn còn nguyên vẹn, dù khi số hàng được hạ xuống tại Genoa, chín thùng được thấy đã rỗng không.Tất cả giấy tờ của tàu ngoại trừ nhật ký hàng hải của thuyền trưởng đã mất. Nhật ký hàng hải được ghi lần cuối ngày 24 tháng 11 tại địa điểm cách 1000 km về phía tây Açores nhưng con tàu đã chạy theo 1 đường thẳng. Ghi chép tìm được cho thấy con tàu đã tới đảo Santa Maria tại Azores ngày 25 tháng 11.

Hơn 40 năm sau khi chiếc Mary Celeste được tìm thấy, những giấy tờ và tài liệu thuộc về một người đã chết, có trình độ tên là Abel Fosdyk tuyên bố rằng ông ta đã là một hành khách bí mật trên tàu. Fosdyk cho rằng một ngày, sau một cuộc tranh cãi vui với một thủy thủ về khoảng cách một người có thể bơi được với quần áo trên người, Thuyền trưởng Briggs và thủy thủ đoàn đã nhảy xuống biển, trong khi vợ Thuyền trưởng Briggs và con gái, Fosdyk, cùng hai thủy thủ khác đứng trên một boong đặc biệt để quan sát cuộc vui. Bỗng nhiên, cá mập lao tới tấn công những người ở dưới nước. Những thủy thủ trên tàu chạy lên boong để quan sát rõ hơn, khiến nó đổ sập và hất tất cả xuống biển.
Fosdyk, rơi lên một mảnh ván, là người duy nhất sống sót. Không thể lên được tàu, ông đã trôi dạt nhiều ngày trên biển và cuối cùng dạt tới bờ biển Châu Phi. Sợ hãi vì những gì đã trải qua, ông không bao giờ kể lại cho bất kỳ ai. Câu chuyện của Fosdyk chưa bao giờ được chứng minh, và nhiều điều không chính xác (như việc Fosdyk miêu tả các thủy thủ là người Anh) cho thấy đây có thể là chuyện giả mạo.

Đầu năm 1873 có báo cáo rằng hai chiếc thuyền cứu sinh đã cập bến tại Tây Ban Nha, trên một chiếc có một xác người và một lá cờ Mỹ, trên chiếc kia có năm xác. Từng có giả thuyết cho rằng đó là xác của các thủy thủ chiếc Mary Celeste. Điều này chưa từng được xác nhận bởi nhân dạng của các xác chết chưa từng được điều tra.

Và đến nay,có rất nhiều giả thuyết về con thuyền này nhưng tất cả vẫn là bí ẩn…

2. Jack the Ripper

Jack the Ripper là tên gọi được biết đến nhiều nhất cho một kẻ giết người hàng loạt không xác định, được coi là đã hoạt động trong khu vực nghèo khó trong và xung quanh vùng Whitechapel của London vào năm 1888, thế kỷ 19.

b1

Thông tin ngoài lề:Cái tên “Jack the Ripper” có nguồn gốc từ một bức thư được viết bởi một người tự xưng là kẻ giết người đã được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.

Những vụ án hắn gây ra rất được quan tâm bởi giới chuyên gia – song chưa ai nhìn thấy mặt thật của gã sát nhân này. Đa số chuyên gia điều tra cho rằng có ít nhất 4 vụ án lquan tới tên này, 1 số người còn nghĩ là 8 vụ.

Cảnh sát London đã tiến hành điều tra 11 vụ án bí ẩn xảy ra từ 3/4/1888 tới 13/2/1891 tại Whitechapel.

Vụ án đầu tiên được cảnh sát nghi ngờ là Jack làm xảy ra vào sáng sớm thứ Sáu ngày 1/8/1888. Mary Ann Nichols gặp Jack khi đang làm gái điếm (tự hiểu) tại phố Durward,Whitechapel. Xác cô được tìm thấy bởi 1 nhân viên giao hàng vào khoảng 3:45 sáng ở lối vào Stableyard. Cổ cô bị cắt làm 2, các mạch máu 2 bên cổ bị cắt đứt. Cô còn có 1 vết thương sâu ở phía trái dạ dày và 4 vết cắt tương tự ở phía bên phải.

8 ngày sau cái chết của cô gái điếm thứ 2 xuất hiện,xác Annie Chapman 47 tuổi (già ham đú) được tìm thấy ở sân sau Số 29 phố Hanbury vào khoảng 6h sáng. Cổ Annie cx bị rạch sâu tới xương với 1 con dao sắc. Kẽ sát nhân mổ bụng cô, cắt bỏ ruột rồi treo nó lên vai Annie (f*cking savage), tử cung cùng với bọng đái của cô bị rạch mất.

Còn nhớ cái thông tin ngoài lề chứ ??? Bức thư có nội dung như thế này: “Thân gửi,tao nghe nói là cảnh sát sẽ bắt tao nhưng họ chưa kìm hãm được tao đâu. Thật buồn cười khi thấy đám cảnh sát cố tỏ vẻ thông minh và nghĩ mình đang điều tra đúng hướng. Tao rất thất vọng về lũ đ* đó nên tao sẽ không dừng lại cho tới khi tao bị bắt. Vụ lần trước tao đã không cho người đàn bà đó cơ hội để rên trong đau đớn….Vụ tiếp theo tao sẽ cắt đứt 1 tai của 1 con điếm và gửi nó tới sở cảnh sát,tao nghĩ nó sẽ rất vui.”

3 ngày sau,

2 cô gái điếm đã bị giết cách nhau 45 phút, vài chứng cứ chỉ ra đều do cùng 1 người làm.

Elizabeth Stride, người phụ nữ 45 tuổi gốc Thụy Điển, bị giết tại hẻm Dutfield, phố Berner. Cổ có 1 vết bị rạch phía bên trái song không có tổn thương nào khác. 1 nhân chứng tên Israel Schwartz khẳng định thấy Elizabeth bị 2 người giết, 1 người lôi cô vào hẻm còn người còn lại hút thuốc đứng nhìn. Anh bỏ chạy khi thấy người đàn ông hút thuốc chú ý tới mình.

Tại quảng trường Mitre,thành phố London, cái xác của 1 người phụ nữ 46 tuổi tên Catherine Eddowe được tìm thấy bởi cảnh sát. Cổ bị cắt và mổ bụng,cật và phần lớn tử cung bị cắt mất. Mặt cô bị phá nát, có những vết cắt ở mi mắt, sống mũi, chóp mũi, môi trên và 2 bên má.

Điều tởm lợm nhất là khoảng 2 tuần sau, 1 nửa miếng cật của Catherine được ngâm rượu được gửi tới cho George Lusk (đứng đầu ủy ban điều tra tại Whitechapel). Và kèm 1 bức thư khiêu khích khác với nội dung: “Từ địa ngục,tao gửi cho các người nửa miếng cật,phần còn lại ta đã ăn rồi và thấy rất ngon đấy.” Sau đó được kí “Bắt tao bất cứ khi nào ngươi có thể”

Cuối cùng, vào thứ 6/11, Mary Jane Kelly, người gốc Ailen làm gái mại dâm bị giết tại phòng riêng số 13 hẻm cụt Miller, Phố Dorset, Spitalfields. Cô được thấy lần cuối vào khoảng 2 giờ sáng khi đi cùng với 1 người đàn ông Do Thái. Xác cô được tìm thấy bởi chủ nhà khi nhìn qua cửa sổ. Lần này tên sát nhân không chỉ rạch cổ mà còn moi ruột cô gái trẻ, cắt phăng bộ ngực,rạch nát khuôn mặt của cô tới mức không thể nhận ra, và moi tim cô.

Mỗi vụ đều xảy ra vào lờ mờ sáng và theo mỗi vụ,mức độ bạo lực càng tăng lên (trừ vụ của Elizabeth Stride)

Mặc dù có 4 nhận dạng khác của “Tên sát nhân Whitechapel” nhưng những vụ án đó không giống những vụ do Jack gây ra.

Tên sát nhân đã đột ngột mất tích, có lẽ hung thủ đã chết,di cư hoặc bị bắt 1 cách bí mật.

Đến bây giờ, Jack vẫn là 1 trong những tên sát nhân nổi tiếng nhất trong lịch sử và mãi là 1 bí ẩn

3.Báo cáo đĩa bay của Kenneth Arnold

Kenneth Arnold (29 tháng 3 năm 1915 – tháng 1, 1984) – một phi công tư nhân ở Boise, Idaho, Mỹ, và công việc làm thêm là tìm kiếm cứu nạn hàng không – được coi là nhân chứng đầu tiên nhìn thấy UFO.

b3

Ngày 24 tháng 6 năm 1947, Arnold báo cáo nhìn thấy 9 vật thể bay kỳ lạ xếp thành một chuỗi gần núi Rainier, Washington khi ông ta đang tìm kiếm một máy bay quân sự mất tích. Ông miêu tả các vật thể gần như sáng lờ mờ khi chúng phản xạ ánh sáng Mặt Trời, phi đội của họ thật là bất thường (“giống như đuôi một con diều Trung Quốc”), và bay với “vận tốc kinh khủng”. Câu chuyện của Arnold đã được phổ biến rộng rãi và được công nhận như một đại diện tiêu biểu, thú vị cho chủ đề UFO hiện đại.

Nhiều năm sau, Arnold xác nhận là ông ta đã nói với các nhà báo rằng “chúng bay với một kiểu bất thường, giống như một cái đĩa nhảy vọt lên khỏi mặt nước” và từ đó, thuật ngữ “đĩa bay” ra đời.Trong tiếng Anh, một thuật ngữ thông dụng khác được sử dụng để miêu tả các vật thể xuất hiện như Arnold đã từng thấy là “flying disks” (hay “discs”) bên cạnh “flying saucer”.Arnold cảm thấy rằng ông ta đã trích dẫn nhầm.

Trong một tuyên bố gửi lực lượng không quân ngày 12 tháng 7, Arnold đã nhiều lần ám chỉ các vật thể “giống dạng đĩa” và ở cuối báo cáo ông ta vẽ một bức tranh, có ghi chú:” chúng có vẻ dài hơn là rộng, bề dày của nó khoảng 1/20 bề rộng”.

Câu chuyện trở nên phức tạp thêm khi một tháng sau sự kiện, trong cuộc gặp với hai sĩ quan AFF, Arnold cho biết một trong chín vật thể có sự khác biệt, to hơn và càng giống dạng lưỡi liềm, vát thành một điểm ở đằng sau.(Xem hình bên phải).

Dù thế, trong các tuần sau, hàng nghìn báo cáo tương tự tới tấp được gửi tới từ Mỹ và khắp nơi trên thế giới—hầu hết miêu tả các dạng đĩa. Một báo cáo của phi hành đoàn United Airlines: chín vật thể dạng đĩa trên bầu trời Idaho ngày 4 tháng 7 có lẽ thu hút báo chí hơn cả sự kiện Arnold và mở đường cho hàng loạt bài phóng sự sau đó.

Sự kiện UFO nổi tiếng trong suốt thời kỳ đó là sự kiện UFO ở Roswell được cho là một đĩa bay quân sự bị rơi, câu chuyện diễn ra ngày 8 tháng 7 năm 1947. Để trấn an dư luận, sự kiện đó và các sự kiện khác được quân đội giải thích là nhầm lẫn khi quan sát khí cầu khí tượng.

Bất chấp dư luận phanh phui, ngày 9 tháng 7, AFF đã bí mật bắt đầu nghiên cứu các báo cáo quan trọng nhất, với sự hỗ trợ của FBI.Báo cáo của Arnold cũng như phi hành đoàn United Airlines được đưa vào danh sách đó.Ba tuần sau họ đi tới kết luận rằng các báo cáo đĩa bay không phải là ảo giác hay có thể giải thích bằng các hiện tượng tự nhiên mà thực sự có cái gì đó đang bay và kêu gọi sự điều tra chính thức từ nhiều cơ quan chính phủ.

4.Dấu chân quỷ dữ

Đêm 8/2/1855,1 cơn bão tuyết dữ dội xuất hiện tại vùng nông thôn và phía Nam Devon.Cơn bão cuối cùng được xác định vào khoảng giữa đêm,từ lúc đó tới khoảng 6h sáng ngày tiếp theo thì có thứ gì (hoặc những thứ gì) đó để lại những dấu vết trên tuyết,vài chỗ còn tách riêng và đi hơn 100 dặm từ sông Exe tới Totnes ở sông Dart.

b4

1 người trong làng đã tìm thấy chúng,chúng có trên nóc nhà,phía bên kia những bức tường dày và phủ sóng dày đặc khắp khu vực đó.những dấu vết tách riêng đi khoảng 2 dặm hơn để tới sông Exe và xuất hiện phía bên kia sông như có 1 sinh vật đi trên nước.

Hiện tượng này trở nên phổ biến rất nhanh làm thu hút nhiều nhà khoa học tới xem xét.Trong đó,1 tự nhiên học đã xác định chính xác khoảng cách những dấu chân kề nhau là 21,6 cm.Những nhà khoa học sau đó xác định thêm rằng những dấu chân đó do 1 sinh vật 2 chân để lại chứ không phải 4 chân.

Vài mục sư nghĩ rằng đó là dấu chân quỷ dữ đang tìm kiếm những kẻ phạm tội(chi tiết khớp với Kinh Thánh) nhưng lập tức bị phản bác là mê tín.Việc những dấu chân xuất hiện ngay lập tức trở thành tin nóng hổi cho những tờ nhật báo (như the Times,Illustrated news…) làm cho có thêm nhiều giả thuyết thừa thãi từ các nhà khoa học,những người tìm hiểu.

Có vẻ như những ngôi làng phía Nam Devon,từ Totnes tới Topsham đều tràn ngập những dấu chân kì lạ này,1 số thì đột ngột biến mất và xuất hiện ở 1 nơi khác, 1 số thì dừng lại ở những bức tường cao (~4 mét) và xuất hiện lại phía bên kia bức tường (biết được là bởi vì phía trên những bức tường đó không hề có dấu chân trên tuyết), 1 số còn xuất hiện tại những khúc sông hẹp, gần ống thoát nước.
Gỉa thuyết thú vị và hợp lí nhất có vẻ thuộc về Sir Richard Owen, ông nói rằng những dấu chân là của những con loài động vật đang đi tìm thức ăn và giải thích thêm những dấu vết kì lạ trên đá là của hoạt động kết đông-rã đông.

b5

Gỉa thuyết của ông có thể giải thích 1 số điểm nhưng không phải là tất cả.
Hiện tại những dấu chân này vẫn còn là bí ẩn và chỉ có thể được giải thích khi sự kiện ấy xảy ra 1 lần nữa.

5. Người bướm và các sự kiện kì lạ tại Point Pleasant

Người bướm được mô tả lần đầu trong 1 sự kiện kì lạ ngày 12/11/1966 gần Clendeni phía Tây Virginia. 5 người đàn ông đang ở nghĩa trang để mai táng phần mộ thì đột nhiên 1 sinh vật mô tả giống người nhưng màu nâu nhảy khỏi cành cây và bay ngang qua đầu họ. Họ cố gây trở ngại cho con vật để biết nó là gì, theo lời khai thì 5 người đều nói rằng đó rõ ràng không phải là chim mà giống như 1 con người với bộ cánh. Nhưng vài ngày sau,có thêm 1 sự kiện lớn hơn bắt đầu quấy động khu vực đó.

b7

Chiều tối 15/11,2  cặp vợ chồng trẻ có 1 cuộc chạm trán kì lạ khi họ lái xe ngang qua 1 hầm chứa bom cũ bị bỏ hoang gần thành phố Point Pleasant. 4 người này đã tình cờ gặp sinh vật và miêu tả thêm rằng:”Thân hình lớn hơn 1 người đàn ông cao khoảng từ 1,8m đến 2m1. Có cánh lớn.”

Họ bắt gặp sinh vật khi đi ngang qua hầm chứa, họ hoảng loạn và phóng đi ngay nhưng sau đó nó xuất hiện ở sườn đồi gần con đường,nó tung cánh đuổi theo sát nút chiếc xe của 2 người (khi đang chạy tốc độ 160km/h).Họ nói nó (a.k.a người bướm) đuổi theo họ tới tận đường cao tốc 62 và vào hẳn địa phận thành phố Point Pleasant rồi bay đi.Họ không phải những người báo cáo duy nhất,1 nhóm khác cx gồm 4 nhân chứng đã khẳng định thấy “con chim” tới 3 lần.

1 cuộc gặp gỡ kì lạ khác xảy ra vào 10h30 ngày hôm đó, Newell Partridge sống ở Salem (cách Point Pleasant 144km) đang xem tivi thì bỗng tivi bị nhiễu và ông nghe thấy những tiếng rên rỉ lớn ở nốt cao không ngừng. Con chó Bandit của ông sủa om sòm nên ông quyết định đi ra ngoài xem xét.

Newellthấy Bandit cứ nhìn chằm chằm vào kho đựng thóc,ông chiếu đèn vào thì nhìn thấy 2 hình tròn đỏ như 2 con mắt. và chắc chắn không phải của người.Badit là 1 chú chó săn đầy kinh nghiệm nên ngay lập tức lao vào kho thóc, Newell sợ hãi liền bỏ chạy vào nhà và đêm đó ông nằm ngủ và đặt cây súng kế bên mình. Sáng hôm sau, Bandit biến mất.Vài ngày sau, Newell đọc 1 bài báo làm ông lạnh tới sống lưng. 1 trong 4 người đã gặp “con chim” ở hầm chứa bom nói rằng đã thấy xác 1 con chó khá lớn nằm ở trên đường và khi họ quay trở lại tìm kiếm để giúp thì nó đã biến mất mặc dù họ chỉ đi có vài phút. Ngay lập tức, Newell biết ngay rằng đó là Bandit – tới giờ vẫn không xuất hiện thêm lần nào nữa (poor doge).

Từ đó,hầm chứ bom hoang sơ và hẻo lánh được cho là nơi ẩn náu của người bướm 1 tháng sau đó. khu vực này được xây dựng dựa trên hàng trăm cánh đồng gỗ và được bảo vệ với các bức tường bê tông dày để tích trữ trong Thế Chiến thứ 2.

Rất ít ngôi nhà sống trong khu vực đó, và trong số đó phải kể đến gia đình Ralph Thomas. Ngày 16/11, họ báo cáo thấy 2 “đốm sáng đỏ vui nhộn” bay trên bầu trời bay xung quanh hầm chứa. Mrs. Marcella Bennett là 1 người bạn của gia đình Thomas đến thăm nhà Thomas thì vừa xuống xe, 1 sinh vật bay xuống gần chiếc xe. Cô mô tả:”Nó di chuyển chập chạp trên đất và trông như 1 người đàn ông cao lớn màu xám với đôi mắt đỏ ngầu”. Marcella sợ hãi ôm con chạy vào nhà sau đó mọi người trong nhà khóa cửa,sinh vật kích động và đứng ở cổng vòm lườm vào cửa sổ. Cảnh sát tới nhưng người bướm lúc đó đã ngay lập tức bỏ đi.Cô Marcella sau đó bị chân thương tâm lí và thường xuyên gọi tới cảnh sát báo rằng có 1 sinh vật có hú hét gần nhà cô (khu vực gần hầm chứa).

Nhiều người đã nháo nhào và tin rằng sự kiện người bướm có liên quan tới UFO và những người đàn ông mặc đồ đen hay xuất hiện tại hầm chứa bom.

Những câu chuyện kì lạ vẫn chưa chấm dứt,1 bản báo cáo của Mary Hyre, thông tin viên cho Athens,Ohia the Messengers.Thực tế, có những đêm cô nhận tới 500 cuộc gọi về sự xuất hiện của những đốm sáng trên bầu trời. 1 đêm nọ tháng 1/1967, cô ấy đang làm khuya tại công ti thì 1 người đàn ông lạ bước vào, 1 người đàn ông thấp với đôi mắt kì lạ được che đậy bẳng cặp mắt kính, anh ta có 1 mái tóc dài cắt kiểu quả bầu.Anh ta nói chậm với 1 giọng ngập ngùng để hỏi hướng tới Welsh phía Tây Virginia.

Cô tưởng anh ta có vấn đề về cách phát âm và anh ta thực sự làm cô sợ,người đàn ông cứ lấn vào người cô gái và nhìn thẳng vào mắt cô như 1 dạng thôi miên.Nhận thấy sự nguy hiểm, 1 người đồng nghiệp của cô chặn anh ta và ngay lập tức phỏng vấn anh. Đang phỏng vấn thì cô có đt,anh ta liền chộp lấy cây bút trên bàn, nhìn nó như chưa bao giờ thấy 1 cây bút rồi chạy khỏi văn phòng và cười lớn.Vài tuần sau, Hyre băng qua đường và gặp lại người đàn ông đó. Anh ta giật mình rồi chạy 1 mạch về 1 chiếc xe màu đen (chiếc xe đột ngột chạy tới rồi dừng lại) khi nhận ra cô phát hiện ra mình rồi chạy đi mất.

Câu chuyện của người bướm đột ngột tan biến như 1 câu chuyện cổ tích ngay sau đó… nhưng câu chuyện của Point Pleasant thì chưa. Vào khoảng 5h chiều 15/12/1967, cây cầu dài 700 bước nối từ Point Pleasant tới Ohio đột nhiên đổ sập.khi có 1 vũ kẹt xe trên cầu.

Cũng vào đêm hôm đó,gia đình James Lilley (lúc đó còn sống gần hầm chứa bom) phát hiện 12 ánh sáng bay kì lạ phía trên nhà họ đang bay về phía khu rừng.

Vào tuần lễ Christmas,1 người đàn ông đen lùn mặc 1 bộ đồ đen,cà vạt đen,anh ta trông giống người Đông Phương. Anh có 1 cái cằm cao, mắt sắc lẻm và 1 cách phát âm không xác định là người vùng nào Anh ta không hứng thú về vụ cầu sập mà hỏi liên tục về vị trí nhìn thấy các UFO. Cô bận nên không nch với anh nhưng người đàn ông cứ liên tục tập trung vào cô nên cô đành phải đuổi anh ta đi.

Đêm đó, người dân khu vực nhìn thấy UFO báo cáo có 1 người đàn ông mặc áo đen tới tra hỏi họ.Anh ta làm họ nghi ngờ vì khẳng định mình là phóng viên từ tòa nhật báo Cambridge ,Ohio mặc dù anh ta không biết về Columbus,Ohio dù 2 nơi đó cách nhau vài km.

Nhiều chuyên gia đã đặt giả thuyết rằng hầm chứa bom đó là “cánh cửa” vào và ra của các sinh vật lạ dưới sự quản lí của 1 bộ phận nào đó. Nếu người bướm thực sự có thật thì tại sao sự kiện đó lại nhanh chóng bị dập tắt và ngay sau đó xảy ra liên tiếp các điều kì lạ như vụ cầu sập, UFO, những người đàn ông mặc áo đen có lquan gì đến nhau ???? John Keel (1 người điều tra về các hiện tượng kì bí) tin rằng Point Pleasant chính là cái “cánh của” đó anh tin rằng nơi đó có 1 sự đặc biệt vì tại sao những sự việc khủng bố, UFO, sinh vật kì lạ và những người đàn ông mặc áo đen xảy ra đa số tại đây theo báo cáo toàn nước Mĩ,liệu “cánh của” có phải là 1 hoạt động của tổ chức nào đó,và nơi nào sẽ là “cánh của” tiếp theo ???

Vậy,Người bướm và ai đứng đằng sau các sự kiện bí ẩn tại Point Pleasant ???

6.Khuôn mặt trên Vải liệm Turin

Các ghi chép lịch sử về tấm vải liệm có thể được chia thành hai khoảng thời gian: trước 1390 và từ 1390 đến nay. Giai đoạn trước năm 1390 là đề tài tranh luận và tranh cãi giữa các nhà sử học. Không có một hồ sơ lịch sử chính thức nào liên quan đến tấm vải liệm có từ trước thế kỷ 14, ngoại trừ những chi tiết vụn vặt.

b6

Theo trình thuật của Phúc âm Gioan thì sau khi được bà Maria Madalena chạy về báo, hai tông đồ là Phêrô và Gioan đã chạy ra mồ và nhận thấy xác Chúa Giêsu không còn ở đó, nhưng tấm vải dùng để liệm xác thì vẫn còn. Truyền thống cho rằng chính Phêrô là người đã thu nhặt tấm vải và đem về nhà.

Theo ghi chép của thánh Nino vào thế kỷ thứ 4, thì tấm vải liệm này sau đó thuộc sở hữu của vợ tổng trấn Philato. Tiếp đó, theo Giám mục Eusebius thì một môn đệ của Chúa Giêsu tên là Addai đã đem tấm khăn liệm này đến Edessa (Thổ Nhĩ Kỳ) để tặng cho vua Abgar V. Theo Eusebius thì ông vua này đã tôn kính tấm khăn liệm và được ơn khỏi bệnh.

Khoảng năm 57, Abgar qua đời. Con ông lên kế ngôi và ra lệnh cấm đạo. Giáo dân ở Edessa đã đem tấm khăn liệm cất dấu và nó gần như “biến mất”. Năm 525, Edessa bị lụt lớn, lúc đó người ta mới thấy tấm vải được dấu trong hốc tường của cổng thành này và nó được gọi là “Mandylion” . Hoàng đế Justiniano đã ra lệnh xây cất tại đây một thánh đường lớn có tên là Hagia Sophia để tôn kính tấm vải liệm.

Năm 639, Edessa bị quân Hồi giáo chiếm đóng nên tấm vải liệm được đem đi nơi khác để cất giấu. Năm 670, người ta thấy tấm khăn liệm xuất hiện tại Palestine. Và năm 944, nó xuất hiện tại nhà thờ Ðức Mẹ tại thành Constantinopolis, Thổ Nhĩ Kỳ. Khi thành phố Constantinopolis bị cướp phá vào năm 1204, tấm vải lại “biến mất”.

Năm 1349, hiệp sĩ Geoffrey de Charny đã viết thư gửi Giáo hoàng đề nghị được xây một nhà thờ ở Lirey (Pháp), đồng thời tuyên bố ông đang sở hữu tấm vải liệm Chúa Giêsu. Mặc dù hầu hết mọi người chấp nhận tấm vải của Geoffrey chính là Mandylion, và nó đã được chính triều đình Byzantium trao cho các Hiệp sĩ dòng Đền.

Nhưng một số chuyên gia vẫn rất hoài nghi về nguồn gốc và tính xác thực của nó. Một trong những người có tiếng nói hoài nghi nhất là Giám mục Pierre d’Arcis. Trong một bức thư gửi Giáo hoàng vào năm 1389, d’Arcis cho rằng, Geoffrey đã lừa gạt giáo hội bằng một tấm vải được in hình một cách gian trá mà ông ta bịa ra đó là tấm vải liệm từng bọc thi thể Chúa Giêsu và nó được tạo ra nhằm mục đích kiếm lợi nhuận

Năm 1506, Giáo hoàng Giuliô II ban hành sắc lệnh “Romanus Pontifex” công nhận tấm khăn liệm là thánh tích thật sự của Chúa Giêsu và thiết lập thánh lễ mừng thánh tích vào ngày 4 tháng 5 hằng năm tại địa phận nhà thờ Chambérry là nơi lưu giữ thánh tích khi đó. Giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi khăn liệm Turin là “biểu tượng của nỗi thống khổ ở mọi thời đại”.

Ngày 12 tháng 6 năm 1998, Joseph Ratzinger (sau này là Giáo hoàng Biển Đức XVI) khi còn là hồng y đã đến viếng tấm khăn liệm.

Giáo hoàng Phanxicô nói về khăn liệm: “…Dung mạo này có đôi mắt nhắm lại, đó là dung mạo của một Đấng đã chết, và thật nhiệm mầu Ngài đang nhìn chúng ta, và trong im lặng, Ngài nói với chúng ta…Dường như tấm Khăn Liệm để cho một năng lượng bị hạn chế nhưng mạnh mẽ trong nó tỏa sáng nhiều, như muốn nói: hãy tin, đừng mất hy vọng; quyền năng của tình yêu Thiên Chúa, quyền năng của Đấng Phục Sinh vượt qua tất cả mọi thứ”.

Trong cuộc trưng bày vào tháng 5 năm 1898. Nhiếp ảnh nghiệp dư tên là Secondo Pia là người đầu tiên được phép chụp ảnh tấm khăn liệm. Pia đã vô cùng kinh ngạc khi nhận thấy tấm kẽm âm bản cho một hình ảnh gần giống như 3 – D (ba chiều), rõ hơn và thật hơn so với khi quan sát trực tiếp. Hình ảnh người đàn ông trên tấm vải hiện lên chi tiết qua ảnh âm bản đã dẫn đến những suy luận mới về nguồn gốc huyền diệu của nó

Năm 1902, Vignon, một nhà sinh học người Pháp, báo cáo lên Viện Hàn lâm Khoa học Pháp giả thuyết hình ảnh trên tấm vải được tạo ra bởi sự kết hợp giữa hơi người và những gia vị được dùng để xức vào thi thể người chết trong nghi lễ chôn cất. Vignon tin rằng, dầu lô hội và Ô liu đã kết hợp với khí amoniac tự nhiên thoát ra từ thi thể, tạo ra một phản ứng sinh ra dấu vết trên tấm vải. Mặc dù tiến hành làm thí nghiệm nhiều lần nhưng ông cũng không thể đạt được những đường vạch rõ nét như hình ảnh xuất hiện trên tấm vải.

Một số nhà khoa học cho rằng, chi tiết giải phẫu của hình ảnh trên tấm vải là chính xác. Nhà giải phẫu học và sinh vật học người Pháp Yves Delage, đã hợp tác với Vignon để tìm ra câu trả lời cho giả thuyết giải phẫu học của họ. Hai người quyết định rằng, hình ảnh người đàn ông không thể là một tác phẩm nghệ thuật bởi nó quá chính xác về mặt giải phẫu.

Tuy vậy, nhiều nhà khoa học khác lại cho rằng hình ảnh đó không phải hoàn toàn đúng về phương diện giải phẫu học. Các cuộc đo đạc đối với người đàn ông trên tấm vải đã phát hiện nhiều đặc điểm bị phóng đại, không cân xứng hoặc quá bất thường, mặt và đầu dường như quá nhỏ và tách biệt so với phần thân còn lại, cánh tay cũng dài bất thường, dường như không có ngón tay cái rõ trên hai bàn tay và tóc dường như cũng không tự nhiên

Năm 1978, Aldo Marastoni, giáo sư tiếng Latinh thuộc Đại học Công giáo Milan đã trông thấy các chữ viết này với mắt thường chứ không dùng dụng cụ nào. Nó được tiếp tục nghiên cứu bởi giáo sư người Pháp là André Marion và học trò của ông là Anne Laure Courage vào năm 1997. Họ đã nhận ra trên Tấm Khăn Liệm các chữ viết bằng tiếng Latinh, Hy Lạp và Do thái.

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng các bản chụp âm bản của Tấm Khăn Liệm, cả ba giáo sư đều đi tới kết luận là các chữ đó đã không được in trên Tấm Khăn Liệm, nhưng chắc chắn do sự đụng chạm của Tấm Khăn Liệm với giấy chứng tử, việc làm thông dụng trong thế giới Hy Lạp, Rôma và Ai Cập xưa kia

Tháng 4 năm 1988, ba phòng thí nghiệm, một thuộc Đại học Oxford (Anh), một thuộc Đại học Arizona (Mỹ) và một thuộc Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Zürich đã tiến hành lấy mẫu và xét nghiệm tấm vải bằng phương pháp định tuổi bằng cacbon-14 độc lập và riêng rẽ. Ngày 13 tháng 10 năm 1988, các kết quả từ ba phòng thí nghiệm được công bố: Tấm vải được xác định là ra đời từ khoảng năm 1260 đến 1350 sau Công nguyên.

Nghĩa là “tấm vải được làm giả vào thời Trung cổ”.

Tuy nhiên, trước khi qua đời vào năm 2005, Ray Rogers, người từng là phụ trách dự án đã nói rằng: “…nhiều khả năng đây là tấm vải từng được dùng để bọc thi hài Chúa Jesus”. Theo đó có những sợi vải cotton đã được nhuộm khá kỹ và trong quá trình vá tấm vải liệm chúng được đổi màu để phù hợp với màu của miếng vải lanh đó. “Trong tấm vải liệm có nhiều chất liệu khác nhau và kết quả giám định niên đại mà chúng tôi đưa ra là hoàn toàn không chính xác”

Năm 2009, kết quả nghiên cứu của nhà tư vấn đồ họa Lillian Schwartz tại trường Nghệ thuật thị giác ở New York khẳng định tấm vải liệm in hình gương mặt của Leonardo da Vinci chứ không phải của Chúa Giêsu và Leonardo đã tạo nên hình ảnh đó bằng cách sử dụng kỹ thuật chụp ảnh thô sơ. Sử dụng máy quét, Schwartz nhận thấy gương mặt in trên tấm vải liệm Turin và chân dung tự họa của Leonardo da Vinci có những kích thước tương đương nhau.

Năm 2009, trong cuốn sách tựa đề “Tấm Khăn Liệm của Đức Giêsu thành Nagiarét”, bà Barbara Frale, nhân viên thuộc Văn Khố Mật của Tòa Thánh Vatican và là chuyên viên nghiên cứu các tài liệu cổ cho rằng:

Các chữ đọc được trên Tấm Khăn Liệm là “In-nece” (từ tiếng Latinh “in necem” có nghĩa là chết”) “neazare” (chắc hẳn là Nazareth), và các mảnh từ ghép lại thành “issie”, “esy”, “snct”, “i sere”, “str”, mà theo giáo sư Marastoni chúng là một lời nguyện: “Iesu sanctissime miserere nostri” (“Lạy Chúa Giêsu rất thánh, xin thương xót chúng con”). Ngoài ra còn có các chữ Do thái nữa[8].
Frale cho biết có nhiều chữ đã bị mất, chẳng hạn Chúa Giêsu được nói đến là “(I)esou(s)

Nnazarennos” và trong từ “Tiberiou” chỉ còn thấy được là “iber”. Tuy nhiên, theo công trình phục hồi của bà, thì giấy chứng tử có thể đọc như sau: “Năm thứ 16 triều đại Hoàng đế Tiberius, Giêsu người Nazareth, được tháo xuống vào buổi chiều sau khi bị một thẩm phán Roma kết án tử vì một thẩm quyền Do thái thấy là có tội, nay được cho đem đi chôn cất với thể lệ chỉ được trao về gia đình sau một năm tròn”. Cuối cùng là những từ ngữ “ký bởi” nhưng chữ ký đã không còn.

Đến nay,ngta vẫn chưa thể giải thích thỏa đáng liệu tấm vải có phải là tấm vải bọc thi hài Chúa Giê Su hay không và nếu giải thích được thì đây có lẽ là minh chứng rõ ràng nhất cho sự tồn tại của “Đấng Cứu Thế”.

7. Bản thảo Voynich

gt

Bản thảo Voynich là một văn kiện viết tay được mã hoá bằng một hệ thống ngôn ngữ và ký tự chưa từng được ghi nhận trước đó trong lịch sử nhân loại. Bằng cách tính tuổi bằng carbon phóng xạ, người ta xác định rằng bản thảo Voynich xuất hiện vào khoảng thế kỷ 15 (giai đoạn 1404-1438) và có thể đã được viết ở miền Bắc nước Ý trong thời kỳ Phục hưng. Tên bản thảo được đặt theo tên của Wilfrid Voynich, một nhà buôn sách người Ba Lan đã phát hiện ra bản thảo vào năm 1912. Toàn bộ bản thảo được viết trên giấy da dê. Dù bị thiếu vài trang nhưng vẫn còn hơn 240 trang sách được lưu lại. Ngôn ngữ trong bản thảo được viết từ trái sang phải, hầu hết các trang đều có các hình minh hoạ hoặc đồ thị.

Bản thảo Voynich được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà khoa học và cả các nhà giải mã nghiệp dư. Tuy vậy cho tới nay vẫn chưa có ai thành công trong việc giải mã những thông điệp được ghi trong bản thảo, và nó trở thành bản thảo bí ẩn nhất trong lịch sử mật mã nhân loại. Những bí ẩn bao trùm quanh ý nghĩa và nguồn gốc của bản thảo Voynich đã khơi gợi và kích thích trí tò mò và tưởng tượng của nhiều người, biến nó thành chủ đề khai thác trong nhiều tiểu thuyết. Trong vòng 100 năm qua, không một giả thuyết nào được đưa ra về bản thảo này nhận được sự kiểm chứng từ giới nghiên cứu. Nhiều người còn cho rằng bản thảo Voynich đơn giản chỉ là một trò bịp bợm và hoàn toàn không mang ý nghĩa gì cả.
Bản thảo Voynich được Hans P. Krauss hiến tặng cho thư viện Beinecke của Đại học Yale vào năm 1969, mã tra cứu của bản thảo tại thư viện là MS 408. Người ta có thể truy cập miễn phí vào phiên bản scan ở độ phân giải cao của bản thảo trên website của thư viện.
Bản thảo có kích thước 23,5 nhân 16,2 nhân 5 xentimét (9,3 nhân 6,4 nhân 2,0 in), với hơn hai trăm trang phân thành 18 thếp giấy, thêm cả các tấm giấy gấp, nếu được tính, bản thảo có tổng cộng khoảng 240 trang.Ở đầu mỗi trang bên tay phải có đánh số 1 tới 116. Cuốn bản thảo đầy đủ có ít 272 trang, vài trang trong số đó đã bị mất trước khi Wilfrid Voynich có được bản thảo năm 1912. Có bằng chứng cho thấy các trang bản thảo đã bị hoán đổi vị trí nhiều lần trong lịch sử của nó, và vị trí gốc có thể khá khác so với ngày nay.
Tuy là bản thảo chép tay song các nhà khoa học khẳng định rằng, không có một lỗi chính tả hay gạch xóa trong bản thảo Voynich. Điều đó chứng tỏ tác giả cuốn sách đã cân nhắc rất kĩ lưỡng trước khi đặt bút. Chủ đề trong cuốn sách cũng đa dạng, phong phú với nhiều hình ảnh về các lĩnh vực chiêm tinh, y khoa, sinh vật… Nhiều người cho rằng, đây có thể là tác phẩm của các tu sĩ dòng Phan-xi-cô và nhà bác học đại tài Roger Bacon.
Khi “định cư” tại ngôi nhà đại học Yale, Bản thảo Voynich trở thành cuốn sách quý nhất nơi đây nhờ cái khó hiểu của nó. Theo quan sát của nhà nghiên cứu Gordon Rugg, một số từ thông dụng thường được lặp đi lặp lại nhiều lần. Để nắm rõ hơn về bản chất của cuốn sách, Rugg đã vận dụng cả kỹ thuật tình báo thời nữ hoàng Elizabeth.
Sau khi tìm hiểu kĩ cuốn sách,Rugg tuyên bố: “Chắc chắn tác giả cuốn sách đã dùng bảng chữ Cardan để chơi khăm Rudolph II. Tôi đoán rằng, người muốn chơi xỏ Rudolph II nhất chính là Edward Kelley, một thợ rèn giỏi, một ảo thuật gia, đồng thời là nhà giả kim thuật người Anh. Có lẽ giữa Kelly và Rudolph có một hiềm khích lớn, cả hai dường như là những kẻ thù không đội trời chung của nhau. Năm 1584, ông ta đã đến Prague để gặp Rudolph và có lẽ không ngoài mục đích bán cuốn sách.
Với một tay bịp bợm vào tù ra tội như Kelly, chẳng có gì khó khăn khi tạo ra cuốn sách như thế. Hơn nữa, Rudolph lại là người tương đối cả tin và cuồng với những món đồ cổ nên việc Kelly phát tài nhờ Rudolph là điều dễ hiểu”.
Tuy nhiên, đó vẫn hoàn toàn chỉ là phán đoán của nhà nghiên cứu Rugg, chưa có bằng chứng nào chứng minh được đây là một trò chơi khăm hay là một văn bản nghiên cứu về các giống cây cỏ lạ đã từng tồn tại trên trái đất.

8.UVB-76

UVB-76 hay còn gọi là “Con ve” là tên mà các người thăm dò sóng ngắn vô tuyến được chiếu liên tục 24/24 ở đài phát thanh với tần số 4625 kHz.

gtt

Âm thanh ngắn nhịp và đều đều liên tục khoảng 25 âm 1 phút suốt cả ngày.

Trong 1 khoảng thời gian phát đi phát lại thì bỗng 1 thứ không xác định phát UVB cho tất cả thiết bị của mọi người (hoặc ít nhất những thứ đón được sóng âm).Âm thanh dừng lại và xuất hiện 1 giọng nói giống 1 người Nga,đoạn tin nhắn này bỗng trở nên cực kì quý hiếm vì không ai có đủ thời gian nghe hết đoạn tin nhắn đó 
Trích 1 đoạn:”Ya UVB-76, Ya UVB-76. 180 08 BROMAL 74 27 99 14. Boris, Roman, Olga, Mikhail, Anna, Larisa. 7 4 2 7 9 9 1 4.”
Điều kì lạ là UVB-76 sau đó được phát hiện là tới từ Liên Xô nhưng lại không hề dừng phát khi Liên Xô tan rã vào năm 1991.UVB-76 còn được phát mạnh mẽ hơn và phủ sóng nhiều rộng (có thể vì nhiều người muốn nghe và tìm hiểu) chứng tỏ trạm phát sóng không hề bị ảnh hưởng khi Liên Xô tan rã.
Sau 1 thời gian,lại có 1 đoạn tin nhắn mà trong đoạn tin nhắn đó có thể nghe được thêm 1 cuộc bàn bạc và những tiếng ồn trong đoạn tin nhắn (nhưng thông tin cuộc nói chuyện quá nhỏ),những chuyên gia sau đó khẳng định rằng tin nhắn chắc chắn không phải được thu âm sẵn.Lần này thì đoạn tin nhắn giống như 1 chương trình radio bth (ngoại trừ có mã) vì giống như người phát thanh đang trò chuyện trực tiếp vậy Nhưng,1 đoạn trong cuộc trò chuyện đã được nghe thấy và nó có nội dung:”Thứ đó đến từ phòng chứa vũ khí”.
Xem đoạn trò chuyện:
UVB-76 càng ngày càng bí ẩn thêm không phải vì các đoạn mã mà càng về sau càng có thêm các thông tin về các cuộc bàn luận bí mật và sự dừng lại bất chợt của các cuộc hội thoại đó.Các đoạn tin nhắn bí ẩn ngày càng làm cho những người quan tâm đến tín hiệu này tăng lên trên toàn thế giới thời điểm đó.
UVB-76 vẫn được phát đều đều sau đó tạo nên nhiều giả thuyết về bí ẩn cuộc hội thoại,lí do lại phát thứ này.Nhưng sau đó vài tháng năm 2010,UVB-76 bỗng ngưng phát làm mọi người khá sợ hãi (dĩ nhiên 1 chút phấn khích) và nghĩ rằng đây lá 1 phần trong cuộc chiến tranh lạnh về việc sử dụng vũ khí hạt nhân giữa Nga và Liên Xô.
Vào tháng 10/2010,1 đoạn mã số kì lạ được phát tán trong đó có nhắc đến các cuộc hội thoại và thậm chí đưa địa điểm phát sóng UVB-76 (nằm ở 1 ngôi làng hẻo lánh tên Povarovo) được viết = mã Morse nhưng thực tế thì UVB-76 đã không còn ở đó nữa,hay nói cách khác là không tồn tại nữa.
Sau sự việc đó,có 1 đoạn sóng bí ẩn trong đó chứa âm thanh 1 người đàn ông liên tục bị gián đoạn bởi tiếng rò rĩ,nhưng cx có thêm nhiều manh mối:”Mikhail. Dmitri. Zhenya. Boris. MDZhB”.
Link nghe:
Sau đó,người ta cx xác định được (mặc dù không còn gì lại nhiều) nhưng nghe câu chuyên này trước đã.
Hình ảnh khu vực:
yJD3mMv
nc4GGzW
YoQcclz
GGgctri
IK6ApWz
Bvoa6Yn
URsMBYN
MeN5bD6
EgGBBna
Năm 2011,2 người bản địa (có thể có hơn) tới khu phát sóng bỏ hoang tại Povarovo để tìm thêm những thứ kì lạ ở đây lquan UVB-76.
Họ đầu tiên tránh con chó giữ cửa (lát sẽ hiểu con chó đâu ra) và bắt đầu tìm hiểu tòa nhà không được bảo vệ và khá ẩm ướt.
Có 1 đêm mà 1 số người trong làng nghe thấy những tiếng động giống như có 1 nhóm người đang bỏ trốn khỏi căn nhà.Tòa nhà có 1 căn hầm mà được mô tả là “Nơi chứa vũ khí quân sự”.1 người trong làng đã miêu tả:”Khi chúng tôi khám phá căn hầm,chúng tôi thấy là nó có 2 cửa 1 cửa trong nhà và 1 cửa dẫn ra bên ngoài sân.Ngay khi chúng tôi mở cửa,1 mùi như axit nồng nặc xộc vào mũi mọi người.Dĩ nhiên không ai muốn ngộ độc nên chỉ nhìn sơ qua rồi bỏ đi.Căn hầm nằm dưới tòa nhà không có gì thú vị.1 vài cái bàn và tủ chứa những mẫu giấy vô dụng (thật sự mình không nghĩ thê),1 vài thiết bị điện hỏng và những thứ về chiến lược nhảm nhí.”.Ngoài những thứ “tào lao” theo ý kiến của người đó thì 1 người trong đoàn còn tìm thấy 1 quyển sổ ghi chép về những phát sóng của UVB-76 từ 3/10/2005 tới 7/12/2005 có nội dung như phần nổi cho những quyển còn lại.Nhưng,nó lại chứa những bằng chứng cho biết UVB-76 là 1 kế hoạch quân sự của Nga.
À mà con chó canh cổng cx được giải thích ở cuốn này:”Chó canh cửa đã được đặt tại vị trí 173″.
Vậy thì căn cứ chính hiện tại ở đâu ??? 1 tín hiệu khác còn khó để xác định hơn dẫn người ta tới 1 trạm phát sóng mà ngày nay gọi là MDZhB dẫn tới 2 địa điểm hiện tại của UVB-76 mà tọa độ là 60°18’40.1″N30°16’40.5″E 55°25’35″N 36°42’33″E.
Địa điểm thứ nhất tìm thấy dễ hơn cái thứ 2,dẫn tới 1 nơi tên Kerro Massiv tại Leningradkaya Oblast và là trung tâm phát thanh thứ 60 của Nga,biệt danh Vulcan,địa điểm thứ 2 là trung tâm phát thanh thứ 69 của Nga tại 1 địa điểm tên Naro Fominsk.
Hiện nay chưa ai có thể giải mã đoạn phát thanh(có thể vì trong 1 thời gian quá dài).

9.Quái vật biển sâu

89

Liệu biển sâu có ẩn chứa những loài quái vật kì lạ như “rắn nước khổng lồ” được nhìn thấy bởi những thành viên của chiếc thuyền Daedalus gần đảo núi lửa Helena vào năm 1848 ???

Những thông tin mà các sở lưu trữ quốc gia và bảo tàng lịch sử tự nhiên đã cho ta biết rằng có thể hoặc chắc chắn trong tương lai ta sẽ còn được thấy những con vật kì dị khác từ biển sâu.

Link tham khảo hình ảnh và thông tin về 1 số loài:

http://wierdnwildcreatures.wikia.com/wiki/Monsters_of_the_Deep

10.Người Hà Lan bay

Từ huyền thoại…

Huyền thoại về “người Hà Lan bay” đã có từ lâu. Nhiều người đi biển nói rằng, vị thuyền trưởng tài ba người Hà Lan này trong một chuyến đi dọc qua mũi Hảo Vọng đã được thông báo sẽ có một cơn bão biển xuất hiện. Mặc cho sự kinh hãi của hành khách, mặc cho gió biển gào thét xé nát cột buồm, sóng đập vỡ thành tàu nhưng viên thuyền trưởng vẫn nhất quyết giữ vững hải trình. Một số thủy thủ và hành khách quá sợ hãi và quyết tâm nổi dậy để chuyển hướng tàu vào bờ, nhưng viên thuyền trưởng đã nhanh chóng đánh gục thủ lĩnh cuộc nổi dậy và ném xác hắn xuống biển, miệng không ngừng nguyền rủa…

tau ma

Vào đúng lúc xác kẻ xấu số chạm mặt nước, thì “Raaắcc!” con tàu đã bị bão biển nghiền nát. Viên thuyển trưởng gào lên trong điên dại: “Ta thề bán linh hồn cho quỷ dữ nếu sống qua cơn bão này!”. Và, đó cũng là điểm khởi đầu về một bóng ma huyền thoại: “người Hà Lan bay”…

Người đi biển tin rằng con tàu ma của “người Hà Lan bay” lướt đi không cần gió. Nó trông rất giản dị và đột ngột xuất hiện trước các thuyền khác, ra dấu hiệu chỉ đường rồi đột ngột biến mất để con thuyền đi theo mắc phải những lạch cạn. Có nhiều người thề sống thề chết là họ đã từng trông thấy con tàu ma, thậm chí nhìn thấy cả “người Hà Lan bay”.

Họ nói bóng ma huyền thoại này luôn để đầu trần, mặt mũi rầu rĩ, bàn tay ông đang bấu lấy bánh lái trên boong tàu và cầu xin Thượng đế tha ông ta tội bất kính. Huyền bí hơn, người ta còn nói rằng toàn bộ thuỷ thủ đoàn của “người Hà Lan bay” là những bộ xương di động đang cần mẫn làm việc. Phải chăng đó là chỉ là huyền thoại?
…đến những ghi chép

90

Câu chuyện “người Hà Lan bay” kích thích mạnh mẽ sự tò mò của mọi người, nhưng nó thực tế hơn nhiều so với hình ảnh sinh ra từ trí tưởng tượng của một số nhà văn. “Con tàu ma” đã nhiều lần được ghi nhận ngay cả trong thế kỷ 20…

Một trong những ghi chép đầu tiên về “người Hà Lan bay” và con tàu của ông ta đã được một thuyền trưởng người Anh ghi lại vào năm 1835 tại bờ biển phía nam châu Phi. Toàn bộ thuỷ thủ trên tàu Anh quốc khi tránh bão bỗng thấy một con tàu nhẹ nhàng lướt trên những con sóng đang gào thét dữ dội. Nó hướng thẳng về phía con tàu của người Anh và khi tất cả mọi người nghĩ rằng hai con tàu sẽ đâm vào nhau thì con tàu ma… biến mất.

Ngày 11/7/1881, tàu H.M.S Bacchante thuộc Hạm đội hải quân Hoàng gia Anh đang đi qua cực Nam châu Phi thì thấy con tàu của “người Hà Lan bay”. Một sĩ quan trên tàu đó chính

là vua George V sau này – đã ghi lại lời kể của viên hoa tiêu khi anh này nhìn thấy tàu “người Hà Lan bay” trong đêm tối: “Tôi thấy con tàu sáng rực một màu đỏ, nó đứng im lìm trong sóng biển rất mạnh”. Sau đó vài ngày, viên hoa tiêu xấu số đã ngã từ cột buồm xuống biển.

Vào một ngày tháng 3/1939, rất nhiều người ở dọc bờ biển phía nam châu Phi đã nhìn thấy “con tàu ma”. Con tàu có vóc dáng kiến trúc của thế kỷ 17, được ghi nhận ở Báo cáo thường niên của Thực dân Anh tại Nam Phi lúc đó: “Giữa lúc trời lặng sóng, con thuyền bỗng đột ngột xuất hiện ở bãi biển Glencairn. Mặc cho mọi người chỉ trỏ bàn tán về xuất xứ của con tàu theo kiểu cổ, một lúc sau con tàu bỗng dần tan biến ra một cách đầy bí hiểm như sự xuất hiện lạ lùng của nó”.

Ghi nhận cuối cùng về con tàu của “người Hà Lan bay” là vào năm 1942, tại Cape Town – Nam Phi. Bốn nhân chứng cho biết họ đã nhìn thấy con tàu cổ đi vào vịnh Table và… biến mất. Và còn nhiều ghi chép nữa liên quan đến con tàu của “người Hà Lan bay” như một hạm đội tàu ngầm của Đức đã gặp nó giữa tâm một cơn bão giữ dội ở vùng biển châu Phi trong Thế chiến II. Tuy nhiên những ghi chép đó không ghi cụ thể thời gian và địa điểm con tàu xuất hiện. Con tàu của “người Hà Lan bay” vẫn đang được che phủ bởi một màn sương biển bí ẩn…

…và trở lại với huyền thoại

Cho đến bây giờ nhiều người đã viết về “người Hà Lan bay”. Một số người cho rằng huyền thoại này bắt nguồn từ một sự kiện có thực. Họ cho biết tên của vị thuyền trưởng đó là Vanderdecken, Van Demien, Van Straaten hoặc Van der Decken. Vào năm 1641, vị thuyền trưởng người Hà Lan quyết định thành lập một công ty tên là Đông Ấn tại mũi Hảo Vọng. Trên đường trở về, ông đã gặp bão cách mũi Hảo Vọng không xa, con tàu bị xé thành từng mảnh, toàn bộ thuỷ thủ và thuyền trưởng tử nạn. Trước khi bị cơn sóng khổng lồ vùi xuống biển, viên thuyền trưởng người Hà Lan đã hét lên một lời nguyền át cả gió bão: “Ta sẽ còn đi quanh vùng biển này cho tới ngày tận thế!” Từ câu chuyện bi thương trên, người ta tin rằng trong mỗi cơn bão ở mũi Hảo Vọng, nếu chú ý bạn có thể nhìn thấy con thuyền của “người Hà Lan bay”. Tuy nhiên người ta cũng vô cùng sợ hãi bởi họ tin rằng nếu ai nhìn thấy vị thuyền trưởng xấu số đó sẽ gặp tai họa.

Năm 1881,hoàng tử George của Anh (sau đó là George đệ ngũ) “vua thủy thủ” đang đi tuần tra trên biển theo lệnh của Phó cơ đốc (cx là bác tước) của Camarvon Đoàn thuyền nhanh chóng tới Melbourne vào tháng 6 và Sydney vào tháng 7 năm 1881 để tuần tra.Vào 4 giờ sáng 1 ngày đầu tháng 7/1881,phía Đông Nam của biển,con tàu hộ tống HMS Bacchante bắt gặp 1 con tàu lạ đi ngang qua ngay trước mặt Bacchante.Ghi chú của 1 trong những thuyền viên:”1 ánh sáng đỏ kì lạ xuất hiện và ngay sau đó, Người Hà Lan Bay băng ngang qua đầu thuyền chúng tôi.Con thuyền trước mặt chúng tôi rực đỏ,tôi có thể thấy rõ những hư hại nặng và khá cũ trên những phần của con thuyền (Ở vùng biển này được báo cáo không hề có bão và không có 1 con thuyền nào trong khu vực này,sóng yên biển lặng) 30 người đều thấy nó,mặc dù là Van Diemen hay Người Hà Lan Bay nhưng chúng tôi được lệnh phải im lặng và giữ bí mật từ các vị thuyền trưởng trên thuyền Bacchante.”

Điều thú vị là 2 con thuyền khác cx thuộc công ti quản lí đó đều thấy điều tương tự

Năm 1911,1 người săn bắt cá voi báo cáo đã chạm trán 1 con thuyền ma tại Iceland. Sau và trước đó cx có 4 báo cáo về con thuyền này quanh Vịnh Hi Vọng.

Trước đó cx có 1 người lái chiếc thuyền tên là “Người Hà Lan Bay và bị đắm tên Fokk.
Mặc dù đó là Vanderdecken hay Fokk thì sự thật là tất cả 19 báo cáo về con tàu ma này đều được xác định là ở quanh 14 đến 15 vĩ độ (phia Nam Vịnh Hi Vọng)

Vậy tại sao con tàu này lại xuất hiện quanh Vịnh Hi Vọng ??? Nó có bí ẩn như thế nào ???

Dịch giả: KS Kiệt ! 


Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.